Chương 1 LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG TRONG CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG TRONG CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Kiểm soát quyền lực nhà nước là một vấn đề phức tạp. Sự phức tạp của kiểm soát quyền lực nhà nước xuất phát từ đặc tính của quyền lực nhà nước. Các đặc tính này làm cho quyền lực nhà nước vừa có thể kiểm soát được nhưng đồng thời không thể kiểm soát hết toàn bộ.
Do tính hệ thống, cấp độ của quyền lực nhà nước, do tính chất phức tạp của kiểm soát quyền lực nhà nước nên kiểm soát quyền lực nhà nước phải được triển khai thành hệ thống. Cho nên, kiểm soát quyền lực nhà nước là một hệ thống những cơ chế được thực hiện bởi nhà nước và xã hội, nhằm giữ cho việc thực thi quyền lực nhà nước đúng mục đích, hiệu quả. Từ cách tiếp cận hệ thống có thể thấy, kiểm soát quyền lực nhà nước gồm kiểm soát từ bên trong (nhà nước) và kiểm soát từ bên ngoài (Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân). Sự kiểm soát của Đảng trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước có vai trò quan trọng, tất yếu thể hiện sự tiên phong, lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị.
Nó được thể hiện rõ nét nhất thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Trong cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua nhiều phương thức, trong đó, phải kể đến là việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng; kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên trong việc thực hiện nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Từ nhận thức trên, có thể hiểu: Công tác kiểm tra của Đảng là hoạt động của Đảng, được tiến hành đối với tổ chức đảng và đảng viên, nhằm nắm vững tình hình; nhận xét, đánh giá việc chấp 12 hành các quy định, quyết định của Đảng; xác định sự đúng đắn hay vi phạm của các hành vi có liên quan đến kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Giám sát của Đảng là việc các cấp uỷ, tổ chức đảng theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên chịu sự giám sát trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
Hiểu theo nghĩa hẹp, hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng do các cơ quan, tổ chức của Đảng tiến hành như các cấp uỷ, các Ban của Đảng, Uỷ ban Kiểm tra của cấp uỷ, Ban cán sự đảng, Đảng đoàn, Đảng uỷ, chi bộ. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng còn được thực hiện thông qua toàn bộ các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát khác của Nhà nước và của các đoàn thể chính trị - xã hội. Xét cho cùng, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước, cũng như hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đều hướng đến một mục tiêu chung là đảm bảo cho các đường lối, chính sách của Đảng được thực hiện trong thực tiễn; đảm bảo quyền lực Nhà nước được kiểm soát. Như vậy, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bảo đảm cho chủ trương, đường lối, nghị quyết, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, của các cấp uỷ và chính sách, pháp luật của nhà nước được xác định đúng, được chấp hành nghiêm chỉnh và có kết quả trong thực tiễn.
Trong kiểm soát quyền lực nhà nước, quan hệ giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước khác về thực chất là quan hệ lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước thông qua kiểm tra, giám sát. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Trên cơ sở kế thừa hạt nhân hợp lý trong lịch sử tư tưởng các học thuyết chính trị pháp lý, đặc biệt là thuyết phân chia quyền lực, đồng thời, tổng kết kinh nghiệm lịch sử đấu tranh giai cấp, khi bàn về mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội công dân, để nhà nước không bao trùm hết mọi lĩnh vực 13 của đời sống xã hội cũng như lấn lướt tự do của con người, C. Mác cho rằng phải giới hạn quyền lực nhà nước. Tự do là biến nhà nước từ cơ quan đứng trên xã hội thành cơ quan hoàn toàn phục vụ xã hội.
“Tự do là ở chỗ biến nhà nước, cơ quan tối cao của xã hội, thành một cơ quan hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội, và ngay cả ngày nay nữa, các hình thức nhà nước tự do hay không tự do là tuỳ ở chỗ trong những hình thức ấy, “sự tự do của nhà nước” bị hạn chế nhiều hay ít” [42, tr. Trong bộ Tư bản, C. Mác đã đề cập đến công tác kiểm tra nói chung. Kiểm tra là một phương thức hành động để thực hiện mục đích.
Nó như là một quy luật. Theo quan điểm của C. Mác - Ăngghen thì kiểm tra là một tất yếu khách quan đối với hoạt động của con người và tổ chức. Có hoạt động thì phải có kiểm tra.Mác khẳng định: Vào một thời kỳ ở một nước mà thế lực vua chúa, giai cấp quý tộc và giai cấp tư sản tranh giành quyền thống trị, mà do đó quyền thống trị bị phân chia thì học thuyết phân quyền tỏ ra là tư tưởng thống trị, nó được người ta coi là quy luật vĩnh viễn…mối điều khoản của hiến pháp đều chứa sẵn trong bản thân nó cái phản đề của bản thân nó, cái thượng viện và hạ viện của nó tự do trong câu nói chung chung, và xóa bỏ cái tự do trong điều khoản kèm theo…Hiến pháp đã được soạn thảo ra sao cho nghị viện có thể gạt bỏ được tổng thống bằng con đường lập hiến, nhưng tổng thống lại có thể gạt bỏ nghị viện bằng con đường không lập hiến, bằng cách thủ tiêu luôn cả hiến pháp.
Như thế là ở đây, bản thân hiến pháp lại đi thách thức thủ tiêu mình bằng bạo lực. Chẳng những nó thần thánh hóa chế độ phân quyền giống như Hiến chương 1830, mà nó còn mở rộng chế độ phân quyền đến chỗ mâu thuẫn không sao chịu nổi…Nếu hiến pháp giao cho tổng thống quyền thực tế thì nó lại cố gắng bảo đảm cho nghị viện quyền tinh thần… [43, tr.Mác, để thực hiện kiểm tra, giám sát trong đảng, cần phải thực hiện các nguyên tắc như: Bầu cử rộng rãi theo định kỳ. Báo cáo công tác và có thể bị bãi miễn; chẳng hạn Báo cáo công khai của hội đồng Trung ương, (bầu lại hàng năm), Báo cáo của từng thành phần để tất cả thảo luận, khi cần phải có những biện pháp thực tiễn ngay lập tức; Thực hiện quyền phê bình và bình luận tự do, tranh luận tư tưởng trong đảng, thực hiện quyết định của đa số nhưng phải bảo đảm quyền lợi của thiểu số. Trong rất nhiều tác phẩm của mình, V.
Lênin đã bàn về công tác kiểm tra, giám sát. Người đã nhiều lần khẳng định vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước. Theo quan điểm của Lênin, trong công tác quản lý cùng với nội dung “chọn người, giao việc” thì “kiểm tra kiểm soát” là việc vô cùng quan trọng. Cần có kế hoạch và đầu tư thời gian để tiến hành kiểm tra công việc: "Kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác - mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy" [49, tr.
Trong tác phẩm “Thà ít mà tốt” (3/1923), Lênin đã chỉ rõ: "Phải nghĩ đến chuyện kiểm tra lại những chủ trương mà chúng ta tuyên bố hàng giờ, quyết định hàng phút, rồi từng giây chứng minh tính chất không vững chắc, không kiên định và khó hiểu của những chủ trương đó" [49, tr. Lênin cho rằng phải đi từ công tác kiểm tra để một mặt tác động tới bộ máy nhà nước, coi đây là điểm xuất phát và khâu trung tâm của phương thức lãnh đạo của đảng đối với cơ quan nhà nước, mặt khác, thông qua công tác kiểm tra mà xem lại tính đúng đắn, tính phù hợp của các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của đảng so với thực tiễn, từ đó có những sửa đổi, bổ sung, phát triển sáng tạo các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của đảng. Theo Lênin, những nội dung chủ yếu của kiểm tra, kiểm soát bao gồm: thứ nhất, kiểm tra, kiểm soát việc sản xuất và phân phối những sản phẩm chủ yếu nhất. Thứ hai, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính và tiền tệ, nhất 15 là hoạt động của ngân hàng, lưu thông tiền tệ, thu nhập, chi tiêu và nộp thuế của các nhà giàu.
Thứ ba, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; việc thi hành các chức trách và chấp hành kỷ luật lao động. Thứ tư, kiểm tra, kiểm soát để phát hiện kịp thời và đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực. Đây chính là những vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, tuy nhiên ở các quy mô rất khác nhau. Nói một cách khái quát, theo V.Lênin, nội dung công tác kiểm tra bao gồm: kiểm tra việc và kiểm tra người.
Nó bao trùm toàn bộ việc kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước, chứ không chỉ là một quá trình của công tác lãnh đạo. Đối tượng bị kiểm tra, giám sát lúc này là nhà nước và các tổ chức đảng vừa là chủ thể vừa là khách thể của công tác kiểm tra, giám sát. Tổ chức, hình thức, phương pháp tiến hành kiểm tra, kiểm soát Công tác tổ chức là công tác có ích nhất và cần thiết nhất cho nhân dân. Nếu quần chúng không có tổ chức thì không thể đảm bảo một sự kiểm tra, kiểm soát nghiêm chỉnh.
Cần đề bạt những người có tài tổ chức xuất thân từ tất cả các tầng lớp dân cư, các giai cấp vào cương vị then chốt trong bộ máy kiểm tra, kiểm soát. Vấn đề cấp thiết nhất là tiến hành cải tiến bộ máy nhà nước Xô viết theo nguyên tắc "Thà ít mà tốt". Cơ quan đầu tiên cần phải được cải tiến là Bộ dân ủy Thanh tra công nông.