Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG NHIỆM VỤ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, AN NINH BIÊN GIỚI TUYẾN BIỂN - ĐẢO CỦA CÁC ĐỒN BIÊN PHÒNG VÙNG ĐÔNG BẮC 1. Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới tuyến biển - đảo và những vấn đề cơ bản về công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới tuyến biển - đảo của các đồn Biên phòng vùng Đông Bắc 1. Tuyến biển - đảo vùng Đông Bắc và nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh tuyến biển - đảo của các đồn Biên phòng vùng Đông Bắc * Vị trí, đặc điểm tình hình vùng biển- đảo Đông Bắc Vùng biển - đảo Đông Bắc nằm ở phía tây Bắc Vịnh Bắc Bộ, đường ranh giới quốc gia trên vịnh giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được ghi trong hiệp ước biên giới năm 1887 giữa Chính phủ Nhà Thanh (Trung Quốc) với Chính phủ Pháp, đó là đường kinh tuyến 108 o03’13”E, phía Nam giáp với tỉnh Thái Bình. Tổng diện tích khoảng 7.
Bờ biển lục địa dài 483 km, có ba cảng biển quốc tế và một khu cảng trung chuyển hàng hóa (Vĩnh Thực). Trên bờ có ba cửa sông lớn đổ ra biển, trong đó đáng chú ý nhất là cửa sông Bắc Luân tỉnh Quảng Ninh, đây vừa là điểm mút của đường biên giới trên bộ, 9 vừa là điểm bắt đầu của đường hoạch định ranh giới trên biển giữa nước ta và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và là khu vực trọng điểm xảy ra các tranh chấp phức tạp về chủ quyền lãnh thổ giữa hai nước. Trên vùng biển - đảo Đông Bắc có hơn 2000 hòn đảo lớn nhỏ (chiếm hơn 83% tổng số các đảo của vùng biển Việt Nam) cùng với đất liền tạo thành ba tuyến. Tuyến bờ biển, có các thị xã, thị trấn, các hải cảng, khu du lịch.
Tuyến đảo gần bờ như: Cát Hải, Cát Bà, Long Châu (thuộc Hải Phòng); Ngọc Vừng, Quan Lạng, Vạn Hoa, Cái Chiên, Vĩnh Thực (thuộc Quảng Ninh). Tuyến đảo xa bờ: Đảo Trần, Cô Tô, Thanh Lân (Quảng Ninh). Bạch Long Vĩ (Hải Phòng); tuyến này cách bờ 33 - 70 hải lý. Ba tuyến đó tạo thành thế phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp có ý nghĩa chiến lược quan trọng, thuận lợi cả hoạt động kinh tế cũng như quốc phòng an ninh; thuận lợi cho cả nhân dân đánh bắt hải sản biển cũng như các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển - đảo Đông Bắc.
Vùng biển - đảo Đông Bắc gồm nhiều đảo, đời sống nhân dân khó khăn, việc xây dựng khu vực phòng thủ không thuận lợi. Vùng biển - đảo Đông Bắc gồm 5 huyện đảo, 21 xã và 2 thị trấn với số dân trên 6 vạn người sống rải rác ở 17 đảo. Tập trung ở các đảo lớn có nước ngọt như: Cát Bà, Cát Hải, Cô Tô, Ngọc Vừng, Vĩnh Thực. Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, cơ sở đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng của các đảo từng bước được củng cố kiện toàn, đời sống nhân dân trên các đảo dần dần được cải thiện.
Khu vực phòng thủ tỉnh (thành), huyện (quận) nhất là các huyện đảo được tiếp tục triển khai xây dựng đi vào chiều sâu. Các cuộc diễn tập gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh chống xâm nhập, bạo loạn ở địa phương được tiến hành phổ biến ở các cấp. Bước đầu đã tạo ra phong trào quần chúng tham gia giữ gìn chủ quyền, an ninh vùng biển - đảo, xây dựng 10 “đảo bình yên”, “đảo an toàn”. Mặc dù được Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách ưu tiên nhưng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trên một số đảo còn nhiều khó khăn: Nông nghiệp chỉ cấy được một vụ, năng suất thấp (trên 2 tấn/ha); hệ thống mương máng thủy lợi xuống cấp.
Về ngư nghiệp: số lượng tàu thuyền gắn máy tăng nhanh, nhưng hầu hết công suất nhỏ, chỉ hoạt động ở ven bờ và trong vịnh kín gió. Về y tế, văn hoá giáo dục, đường sá, giao thông còn nhiều khó khăn. Nhân dân sống phân tán theo từng đảo, cụm đảo, nên hoạt động của các cấp ủy đảng, chính quyền rất khó khăn. Tuy đã có chính sách tăng phụ cấp nhưng hầu như không ai muốn hoạt động vì vất vả, đi lại tốn kém, ảnh hưởng tới thời gian sản xuất của gia đình.
Biển - đảo là một hướng chiến lược quan trọng đối với nước ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ta đã có một số kinh nghiệm xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành), thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, chiến tranh nhân dân trên đất liền, nhưng chưa có kinh nghiệm trong xây dựng thế trận an ninh nhân dân, Biên phòng toàn dân trên vùng biển- đảo. Do tính chất đặc biệt của điều kiện địa lý tự nhiên và dân cư trên vùng biển - đảo, nếu vận dụng những gì đã làm ở đất liền sẽ chưa thật phù hợp. Vì vậy, một nhiệm vụ mới mẻ và rất cần thiết là phải đầu tư, tập trung nghiên cứu lý luận và tổng kết kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng thế trận phòng thủ, thế trận an ninh nhân dân, thế trận Biên phòng toàn dân trên vùng biển - đảo của Tổ quốc nói chung và vùng biển - đảo Đông Bắc nói riêng.
Khó khăn lớn nhất là không phát triển được đội ngũ đảng viên. Nguồn cán bộ xã rất hạn chế, có vị trí khuyết không tìm được người thay thế. Báo, tạp chí đến đảo thường chậm hàng tuần, nhiều đảo chưa có điện lưới quốc gia, vô tuyến, đài phải dùng ắc quy, pin nên số lượng rất hạn chế. 11 Hiện nay trên vùng biển - đảo Đông Bắc còn tồn tại các khu vực chồng lấn, tranh chấp phức tạp (cả song phương, đa phương) hoặc đang ở giai đoạn hội đàm phân định ranh giới với các nước láng giềng.
Giữa nước ta và Trung Quốc đã qua nhiều vòng đàm phán chính thức cấp chuyên viên của Chính phủ nhưng chưa có tiến triển thực chất. Đảng và nhà nước ta luôn có thái độ thiện chí, gác lại những bất đồng, tranh chấp trong quá khứ, hướng tới một tương lai hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển, không vi phạm độc lập, chủ quyền của nhau. Ngày 07/11/1991 Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc đã ký hiệp định tạm thời giải quyết các vấn đề biên giới Việt- Trung theo nguyên tắc: Trong khi chờ đàm phán giữ nguyên biên giới như hiện trạng. Về phía ta chấp hành nghiêm hiệp định tạm thời.
Ngược lại, về phía Trung Quốc đã lợi dụng những tồn tại về biển - đảo, biên giới do lịch sử để lại, lợi dụng những sơ hở trong công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh vùng biển - đảo của ta để “vừa đàm vừa lấn”. Họ yêu sách ta bỏ đường ranh giới quốc gia trên biển mà ta đang quản lý hiện nay. Họ tiến hành nhiều thủ đoạn khác như, xây kè ven sông “dùng thủy phá thổ”, xây cột đèn tín hiệu trên bãi Tài Xẹc thuộc lãnh thổ Việt Nam với ý định sử dụng công trình này làm điểm bắt đầu đường biên giới trên biển và phân lại Vịnh Bắc Bộ. Về kinh tế, Trung Quốc dùng chính sách “biên mậu”; đồng thời, tăng cường lực lượng quân sự bảo vệ cho việc thăm dò dầu khí, đánh bắt trộm hải sản, buôn lậu trên vùng biển - đảo Đông Bắc của ta.
Một số hiện tượng trên đều nhằm thực hiện “chiến lược biển xanh” và “chiến lược biên giới mềm” của Trung Quốc, từng bước hướng Việt Nam theo quỹ đạo và chịu sự chi phối của họ. Đó là nguyên nhân chủ yếu gây ra tranh chấp, mất ổn định và có lúc căng thẳng ở vùng biển - đảo Việt Nam và vùng biển - đảo Đông Bắc nói riêng. Tình hình trật tự an ninh vùng biển-đảo Đông Bắc rất phức tạp. 12 Do những nguồn lợi kinh tế tiềm tàng và to lớn của vùng biển - đảo Đông Bắc đã dẫn tới mật độ người, phương tiện hoạt động trên vùng biển này ngày một tăng.
Ngư dân Việt Nam từ các địa phương trong cả nước cũng đến ngư trường Đông Bắc để khai thác hải sản và trao đổi hàng hóa. Hiện tượng xâm phạm chủ quyền vùng biển, đánh bắt trộm hải sản của tàu thuyền nước ngoài diễn ra thường xuyên, có khi với số lượng lớn. Tình hình buôn lậu, trốn thuế kéo theo tình trạng trấn, cướp biển, mất an toàn giao thông hàng hải, đánh bắt cá bằng sử dụng chất nổ, điện cao áp, chất độc hại để đánh bắt hải sản có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường sinh thái biển ngày càng tăng. Hệ thống pháp luật về biển - đảo từng bước được hoàn thiện là cơ sở pháp lý trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh vùng biển - đảo Đông Bắc.
Cho tới nay, Nhà nước ta chưa có luật biển, song đã có một hệ thống các Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Quyết định, quy định riêng cho từng lĩnh vực, cho từng ngành hoạt động trên biển. Mỗi tỉnh, thành phố dọc tuyến biển nước ta có “quy chế tạm thời” để quản lý biển. Hệ thống Pháp luật biển của nước ta đang từng bước hoàn thiện. Những văn bản đã có chưa đầy đủ, chưa cụ thể hóa và điều chỉnh được nhiều lĩnh vực công tác hoạt động trên biển, thậm chí có văn bản đã lạc hậu, không còn phù hợp do sự phát triển của tình hình trên biển - đảo.
Công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo về pháp luật và nhiệm vụ bảo vệ biển - đảo còn nhiều hạn chế, biện pháp tiến hành chưa sát thực tế hoạt động của ngư dân và các ngành hoạt động trên biển. Chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, các lực lượng đã từng bước được quy định rõ, là cơ sở quan trọng trong việc xác định trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới tuyến biển - đảo vùng Đông Bắc. Trong một số văn bản của Chính phủ từ sau ngày đất nước được thống nhất đã quy định rất rõ về tổ chức, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động tuần tra, kiểm soát trên biển của các lực lượng, các ngành làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ 13 biển - đảo. Trọng tâm là Nghị định 30/CP, ngày 29/01/1980 của Chính phủ; Quyết định số 13/HĐBT ngày 11/02/1986 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ); Nghị quyết số 11/BCT ngày 08/8/1995 của Bộ Chính trị về xây dựng lực lượng BĐBP trong tình hình mới; Pháp lệnh về bộ đội Biên phòng (được ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 07/4/1997) và gần đây là Nghị định 161/CP của Chính phủ về quy chế khu vực biên giới biển.