Chương 1: Giới thiệu. Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: Lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu, tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan.
Từ đó, xác định các nhân tố tác động đến hiệu quả quản trị hành chính công, đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Trên cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu trước và những đặc điểm của địa bàn nghiên cứu, chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu cho mô hình nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu.
Trình bày kết quả nghiên cứu sơ bộ, phân tích thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu, phân tích kết quả của mô hình kinh tế lượng để xác định các nhân tố tác động đến hiệu quả quản trị hành chính công cấp tỉnh tại Long An. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Dựa vào kết quả nghiên cứu để gợi ý một số chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản trị hành chính công cấp tỉnh tại Long An. Đồng thời cuối chương này cũng nêu ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày sơ lược các khái niệm lý thuyết có liên quan đến nghiên cứu “Đánh giá của cán bộ, công chức về chất lượng quản trị hành chính công cấp tỉnh tại Long An” và các lý luận thực tiễn có liên quan; phân tích, đánh giá các nghiên cứu có liên quan đến đề tài; đề xuất mô hình nghiên cứu, các nhân tố ảnh hưởng đến đánh giá của cán bộ, công chức, viên chức đến chất lượng quản trị hành chính công cấp tỉnh tại Long An. Khu vực tư Nguyễn Thuấn (2005) cho rằng, khu vực tư là khu vực chịu sự tác động của thị trường cạnh tranh. Các hoạt động của khu vực tư là để tạo ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu của xã hội với mục tiêu sau cùng là tìm kiếm lợi nhuận từ các hoạt động đó. Khu vực công Khu vực công là khu vực không chịu sự tác động có hiệu quả của thị trường cạnh tranh, bao gồm các hoạt động tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu của xã hội do nhà nước trực tiếp đầu tư, quản lý hoặc do tư nhân đầu tư quản lý nhưng có sự chi phối đặc biệt của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp, chính sách, tiêu chuẩn riêng biệt (Nguyễn Thuấn, 2005).
Theo Nguyễn Thuấn (2005) cho rằng, các hoạt động thuộc khu vực công là các hoạt động thuộc các lĩnh vực: - Xây dựng, hoàn thiện, thực hiện và duy trì hệ thống luật pháp của quốc gia một cách có hiệu quả. Tức là các hoạt động bao gồm cả các chức năng lập pháp và hành pháp. Đây là hoạt động rất quan trọng thuộc khu vực công và cũng chỉ tồn tại ở khu vực công mà thôi. - Các hoạt động dưới dạng các chính sách của chính phủ như các chính sách về thuế, phạt tiền, chính sách về trợ cấp, hệ thống các quy định tiêu chuẩn về môi trường, về an toàn thực phẩm, về quy định đô thị và về vệ sinh lao động… - Các hoạt động về cung ứng dịch vụ, sản xuất hàng hóa công cộng.
Việc sản xuất hàng hóa công cộng phục vụ cho các cá nhân, cho nền kinh tế có thể thông qua 7 các chủ thể là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu nhà nước mà cũng có thể thuộc sở hữu tư nhân nhưng chịu sự chi phối đặc biệt của nhà nước. Hàng hóa, dịch vụ công Hàng hóa công trong nhiều trường hợp được gọi là dịch vụ công. Nguyễn Thuấn (2005) cho rằng, hàng hóa công hay dịch vụ công là hàng hóa, dịch vụ mà mọi người trong xã hội có thể sử dụng, dùng chung với nhau, việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác. Theo Nguyễn Thuấn (2005), hàng hóa, dịch vụ công cộng là loại hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn được một hoặc cả hai đặc điểm sau: - Thứ nhất, nó không phải được dành riêng cho ai, không ai có quyền sở hữu cá nhân về hàng hóa, dịch vụ ấy.
Thật khó để buộc mọi người phải trả tiền trực tiếp khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ mà không dành riêng cho mình, bởi vì nếu không trả tiền trực tiếp, họ cũng có thể hưởng thụ được hàng hóa, dịch vụ ấy. - Thứ hai, việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ công của người này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác. Bởi vì, chi phí tăng thêm để tiêu dùng một hàng hóa, dịch vụ tăng thêm là rất nhỏ, gần như bằng không. Tuy nhiên, không phải bất kỳ một hàng hóa, dịch vụ công nào cũng bảo đảm một cách nghiêm ngặt các đặc điểm trên, tùy theo mức độ bảo đảm mà người ta có thể chia thành hai loại hàng hóa, dịch vụ công, đó là hàng hóa, dịch vụ công thuần túy và hàng hóa, dịch vụ công không thuần túy.
Hàng hóa, dịch vụ công thuần túy là loại hàng hóa công không thể định suất sử dụng và việc định suất sử dụng là không cần thiết. Hàng hóa, dịch vụ công không thuần túy là hàng hóa công có thể định suất sử dụng, có thể loại trừ nhưng phải chấp nhận một khoản tốn kém chi phí nhất định (Nguyễn Thuấn, 2005). Viện nghiên cứu đổi mới kinh tế Trung ương (2007) cho rằng, hàng hóa dịch vụ công có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất là, những hoạt động phục vụ cho nhu cầu, lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân. Thứ hai là, nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này cho xã hội.
Ngay cả khi nhà nước chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung ứng thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo công bằng trong phân phối các dịch vụ công, khắc phục những khiếm khuyết của thị trường. Thứ ba là, khi thực hiện cung ứng các dịch vụ công, các cơ quan nhà nước và các tổ chức được ủy nhiệm cung ứng 8 có sự giao dịch cụ thể với các tổ chức và công dân. Sau cùng đó là, nhà nước cung ứng dịch vụ công thường thông qua quan hệ thị trường không đầy đủ. Thông thường người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước.
Khác biệt của dịch vụ công so với các dịch vụ thông thường là bởi dịch vụ công luôn gắn với thẩm quyền mang tính pháp lý, phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, tính không vụ lợi và mọi người dân đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp nhận, sử dụng dịch vụ công. Hành chính Hành chính theo nghĩa rộng, là một thuật ngữ chỉ một hoạt động hoặc tiến trình chủ yếu có liên quan tới những biện pháp để thực thi những mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định. Theo nghĩa hẹp, thì hành chính được xem là hoạt động quản lý các công việc của Nhà nước, xuất hiện cùng với Nhà nước (Lê Thị Vân Hạnh, 2006). Hành chính công Hành chính công là hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để quản lý công việc công của Nhà nước nhằm phục vụ lợi ích chung hay lợi ích riêng hợp pháp của công dân.
Do vậy, hành chính công bao hàm toàn bộ các cơ quan thuộc chính quyền của bộ máy hành pháp từ Trung ương tới các cấp chính quyền địa phương, toàn bộ các thể chế và hoạt động của bộ máy ấy và tất cả những người làm việc trong bộ máy đó (Lê Thị Vân Hạnh, 2006). Phạm Đức Toàn (2012) cho rằng, hành chính công, quản lý công (public management), quản trị hành chính công hay quản lý hành chính nhà nước (govermance) có sự đồng nhất với nhau và trong nhiều trường hợp, được sử dụng thay thế cho nhau. Với cách hiểu chung, hành chính công là nền hành chính, là thiết chế thực hiện quyền hành pháp, đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống. Nền hành chính là khái niệm tổng quát, bao gồm các yếu tố: hệ thống thể chế, pháp luật, thủ tục hành chính; chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính nhà nước các cấp; đội ngũ cán bộ, công chức; nguồn lực tài chính, công sản và các điều kiện vật chất, kỹ thuật đảm bảo thực thi công vụ hiệu quả.
Cung ứng dịch vụ công là một trong những chức năng cơ bản mà các nhà nước giao cho nền hành chính đảm trách. Trong quá trình phát triển của nền hành chính, dịch vụ công được mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, với yêu cầu về chất lượng ngày càng 9 cao. Nền hành chính phát triển phải phối hợp và điều hoà các nguyện vọng cá nhân với lợi ích của cộng đồng, của đất nước, hướng tới các mục tiêu của một xã hội dân chủ. Nhà nước không ôm đồm, tự mình giải quyết tất cả các vấn đề xã hội mà đẩy mạnh dân chủ hoá gắn với phân quyền, xã hội hoá nhằm tập trung thực hiện tốt vai trò “lái thuyền”.
Nhiều hoạt động cung ứng dịch vụ công được chuyển cho các khu vực ngoài nhà nước thực hiện. Theo cách tiếp cận này, hành chính công được coi là quản lí công hay mô hình quản trị công mới (New Public Management - NPM). Đó là sự điều hành, giám sát và quản lí các chủ thể khác nhau của xã hội nhằm phục vụ tốt hơn các nhu cầu chính đáng của nhân dân. Thủ tục hành chính Chính phủ (2010) xác định, “Thủ tục hành chính” là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức.