ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất nước ta hiện nay đang trong quá trình đô thị hóa phát triển không ngừng cả về tốc độ lẫn quy mô số lượng và chất lượng. Bên cạnh những mặt tích cực, những tiến bộ vượt bậc thì vẫn còn có những mặt tiêu cực, những hạn chế mà không một đất nước đang phát triển nào không phải đối mặt, đó là tình hình môi trường ngày càng bị ô nhiễm về đất, nước, không khí, tài nguyên thiên nhiên cũng không ngừng bị cạn kiệt, hàng loạt các vấn đề môi trường khác cần được quan tâm và giải quyết một cách kịp thời và triệt để. Môi trường đã trở thành vấn đề chung cho toàn nhân loại.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của đất nước theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nhiều vấn đề về môi trường đã nảy sinh đặc biệt là môi trường nước. Các sông, suối trong lưu vực là nơi tiếp nhận những nguồn thải từ hoạt động sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, y tế… đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, đồng thời khả năng tự làm sạch và tiếp nhận chất thải của chúng cũng bị mất dần như sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Tô Lịch, sông Đồng Nai,. Lưu vực sông Cầu là một trong lưu vực sông lớn ở nước ta. Đây là lưu vực quan trọng nhất trong hệ thống sông Thái Bình có diện tích lưu vực 6.030km2 với dòng chính sông Cầu dài 288,5km bắt nguồn từ núi Vạn On ở độ cao 1.175 m và đổ vào sông Thái Bình ở Phả Lại.
Trong lưu vực sông Cầu có tới 26 phụ lưu cấp I với tổng chiều dài 671km và 41 phụ lưu cấp II với tổng chiều dài 643km và hàng trăm km sông cấp III, IV và các sông suối ngắn dưới 10km. Hiện nay, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trên lưu vực sông Cầu đã và đang ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường nước sông với những đặc trưng khác nhau. Trên địa bàn các n 2 tỉnh Bắc Kạn, Bắc Giang và các vùng thuần nông khác, tác nhân gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là nước thải sinh hoạt và nông nghiệp. Ngược lại, tại các vùng giáp sông Cầu thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc (huyện Mê Linh), Hà Nội (huyện Đông Anh),.
ô nhiễm nước chủ yếu do các hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề và đô thị. Vùng thượng lưu sông Cầu thuộc địa phận tỉnh Bắc Kạn có chiều dài khoảng 60km là nguồn cung cấp nước chính phục vụ cho sinh hoạt, tưới tiêu và các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Cũng giống như nhiều đô thị khác trên lưu vực, khu vực thị xã Bắc Kạn đã và đang tạo ra các áp lực lớn đến môi trường nước sông Cầu tại đây. Theo kết quả điều tra khảo sát của các Sở Tài nguyên và Môi trường 6 tỉnh lưu vực sông Cầu và Báo cáo kết quả quan trắc chất lượng môi trường đất, nước, không khí qua các năm cho thấy chất lượng nước sông Cầu đã bị suy giảm, tại một vài địa điểm bắt đầu có dấu hiệu bị ô nhiễm nhẹ.
Đây là điều đáng báo động vì nhân dân sử dụng nước sông Cầu cho mục đích sinh hoạt. Do đó, nghiên cứu về thực trạng môi trường nước sông Cầu là hết sức cần thiết, nhằm cụ thể hóa các giải pháp về quản lý lưu vực, quản lý việc xả thải ra sông, tuyên truyền giáo dục để nâng cao ý thức của mọi người dân, nhất là khi quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh, nhằm phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững. Xuất phát từ tình hình thục tiễn trên, được sự phân công của ban chủ nhiệm Khoa Môi Trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, và sự giúp đỡ của Cô giáo TS. Trần Thị Phả, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá chất lượng nước sông Cầu đoạn chảy qua địa bàn thị xã Bắc Kạn”.
Mục đích nghiên cứu 1. Mục tiêu chung - Nhận diện một cách đầy đủ chất lượng, đặc trưng của nước sông Cầu đoạn chảy qua địa bàn thị xã Bắc Kạn thông qua số liệu phân tích. n 3 - Xác định được những thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý thực trạng nước sông Cầu đoạn chảy qua địa bàn thị xã Bắc Kạn. - Kiến nghị một số biện pháp quản lý cũng như bảo vệ nguồn nước được tốt hơn.
Mục tiêu cụ thể - Điều tra khảo sát chất lượng nước lưu vực sông Cầu đoạn chảy qua địa bàn thị xã Bắc Kạn. - Chỉ ra được những thuận lợi và khó khăn của công tác quản lý môi trường của nước sông Cầu đoạn chảy qua địa bàn thị xã Bắc Kạn. - Đề xuất được những giải pháp, phương án giải quyết mang tính khả thi, phù hợp với địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.
Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu này đề xuất cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm quản lý tổng hợp chất lượng nước phục vụ bảo vệ và khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước sông. Ý nghĩa thực tiễn - Cung cấp các thông tin dữ liệu về chất lượng nước trên lưu vực sông Cầu đoạn chảy qua địa bàn thị xã giúp cơ quan quản lý địa phương trong việc quản lý và xử lý các nguồn thải hiệu quả hơn, góp phần ngăn ngừa ô nhiễm và phòng chống các sự cố môi trường có thể xảy ra. - Giúp bản thân nâng cao và vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế. Yêu cầu - Các số liệu, tài liệu phản ánh chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến khu vực nghiên cứu.
- Các đề nghị, kiến nghị phải có tính khả thi. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lí luận Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người.
Nước là thành phần quan trọng làm nên và duy trì sự sống trên Trái Đất. Nước tham gia vào mọi lĩnh vực đời sống của con người. Với vai trò quan trọng đó, con người đã xếp nước vào một trong những loại tài nguyên vô cùng quý giá. Cùng với tốc độ đô thị hóa, hiện đại hóa và gia tăng dân số khá nhanh, con người ngày càng tác động nhiều tới tài nguyên nước.
Điều này đã làm cho nguy cơ cạn kiệt và ô nhiễm tài nguyên nước rất cao, vì vậy cần phải sớm có biện phát quản lý phù hợp và kịp thời. Một số khái niệm liên quan : - Môi trƣờng: Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005, “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người,có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [7]. - Tiêu chuẩn môi trƣờng: Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005, “Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của các chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường” [7]. - Đánh giá tác động môi trƣờng: Theo khoản 20 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005, “Đánh giá tác động môi trường là việc phân n 5 tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó” [7].
- Quan trắc môi trƣờng: Theo khoản 17 điều 3, Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005, “Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu với môi trường” [7] - Nƣớc mặt: Theo khoản 3 điều 2 Luật Tài nguyên nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012, “Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo”[6] - Chất thải: Theo khoản 10 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005, “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc cá hoạt động khác”[7] - Ô nhiễm môi trƣờng: Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005, “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”[7] - Ô nhiễm nƣớc: Theo hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã”. Cơ sở thực tiễn - Do nhiều lí do khác nhau, các nguồn nước trên Trái đất ngày càng cạn kiệt. Ước tính có khoảng 1/3 dân số thế giới đang sống trong tình trạng thiếu nước trầm trọng. Trong khi đó, dân số gia tăng với tốc độ chóng mặt, hiện nay n 6 dân số thế giới đã hơn 7 tỷ người.
Quá trình đô thị hóa, hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đang khiến cho các nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng [1] Những chất gây ô nhiễm chủ yếu trong nước là các mầm bệnh sinh ra từ chất thải của con người (vi khuẩn và virut), kim loại nặng và hóa chất từ chất thải công nghiệp, nông nghiệp. Uống nước đã bị ô nhiễm hoặc ăn thức ăn chế biến bằng nước nhiễm độc là hình thức phơi nhiễm phổ biến nhất. Ăn cá bắt từ nguồn nước bị ô nhiễm cũng có thể nguy hiểm vì chúng có thể mang mầm bệnh và tích lũy các chất hữu cơ bền thông qua quá trình tích lũy sinh học. Ngoài ra, con người cũng có thể bị ảnh hưởng bởi cây trồng được tưới bằng nước ô nhiễm hoặc do đất bị nhiễm bẩn bởi các dòng sông ô nhiễm đang dâng lên [1] Các mầm bệnh trong nước ô nhiễm có thể gây ra hàng loạt các bệnh liên quan đến đường ruột, đặc biệt nguy hiểm và có thể gây tử vong đối với trẻ em và những người có thể trạng nhạy cảm.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết ô nhiễm nguồn nước là một trong những nguyên nhân gây tử vong lớn nhất trong số các vấn đề về môi trường.