Chương I: Giới thiệu - trình bày sự cần thiết của đề tài, mục tiêu và giới hạn của đề tài, phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn. Chương II: Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ - tóm lược các vấn đề tổng quan về lý luận về dịch vụ, đánh giá chất lượng dịch vụ áp dụng cho dịch vụ nhận diện thương hiệu. Chương III: Giới thiệu về Công ty TNHH tư vấn và sáng tạo thương hiệu Sao Kim và dịch vụ nhận diện thương hiệu của Công ty - thông tin tóm lược về công ty, ngành nghề hoạt động, cơ cấu tổ chức, kết quả kinh doanh; mô tả về dịch vụ thiết kế bộ nhận diện thương hiệu của Công ty. Chương IV: Đánh giá chất lượng dịch vụ thiết kế bộ nhận diện thương hiệu của Công ty - báo cáo kết quả nghiên cứu, đánh giá chất lượng dịch vụ từ cảm nhận của khách hàng.
Chương V: Đề xuất các giải pháp - nêu ra một số đề xuất và giải pháp cơ bản để cải thiện chất lượng dịch vụ nhận diện thương hiệu của Công ty TNHH tư vấn và sáng tạo thương hiệu Sao Kim. 6 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THIẾT KẾ BỘ NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU 2.1 Dịch vụ và đặc tính của dịch vụ 2.1 Khái niệm dịch vụ Theo P.Keller (2012): “dịch vụ là bất cứ một hành động hay một sự thực hiện mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, về bản chất là phi vật thể và không dẫn đến quyền sở hữu của bất cứ thứ gì”.TS Phạm Thị Huyền và TS. Nguyễn Hoài Long (Giáo trình Marketing Dịch vụ - Đại học Kinh tế quốc dân 2017): “Dịch vụ là những hoạt động kinh tế được một bên chào bán cho bên kia đem lại những kết quả mong muốn cho bản thân người nhận hoặc cho những vật, những tài sản của chủ sử dụng. Các khách hàng mua dịch vụ mong muốn đạt được lợi ích/giá trị từ việc tiếp cận với lao động, những kỹ năng chuyên nghiệp, cơ sở vật chất, mạng lưới, hệ thống và các vật dụng, nhưng thường không nắm quyền sở hữu với bất cứ thành phần vật chất nào có liên quan”.
“Dịch vụ là các hoạt động kinh tế tạo ra giá trị và cung ứng lợi ích cho các khách hàng tại một thời gian và địa điểm xác định và kết quả là đem lại những thay đổi mong muốn cho người thụ hưởng dịch vụ”.2 Đặc tính của dịch vụ Bốn đặc tính của dịch vụ có ảnh hưởng lớn đến việc thiết kế các chương trình marketing dịch vụ: tính vô hình, tính bất khả phân, tính khả biến, và tính dễ hủy (P.Keller – Marketing Management 2012).1 Tính vô hình Dịch vụ tồn tại dưới hình thái phi vật thể. Khách hàng, người sử dụng các dịch vụ không thể nhìn thấy, sờ mó, thử mùi vị… trước khi tiêu dùng chúng. Họ chỉ có thể cảm nhận kết quả, chất lượng hoạt động cung ứng chúng. Họ chỉ có thể cảm 7 nhận kết quả, chất lượng hoạt động cung ứng diễn ra quá trình tiếp nhận được kết quả với quá trình tiếp nhận và tiêu dùng dịch vụ đó.
Khác với hàng hoá (hữu hình) sản phẩm dịch vụ không xác định bằng tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng theo các chuẩn mực ISO… giống như các hàng hoá thông thường khác. Người ta không thể nhìn thấy nhãn, mác… của các dịch vụ mà nhờ các thông tin chất lượng để tiếp xúc giữa người cung ứng và người sử dụng dịch vụ để đánh giá chất lượng của dịch vụ. Chất lượng của dịch vụ rất khó đánh giá và không ổn định Chất lượng của dịch vụ rất khó đánh giá, do tính vô hình của dịch vụ ảnh hưởng, chỉ người sản xuất và tiêu dùng dịch vụ mới nhận rõ đặc điểm này. Chất lượng của dịch vụ phụ thuộc rất nhiều yếu tố như bản thân người cung cấp và người sử dụng dịch vụ (nhận thức về chất lượng, trình độ, kỹ năng và nghệ thuật của người cung ứng.
Thói quen sở thích của người tiêu dùng dịch vụ, chu kỳ năng lượng của tham gia trao đổi dịch vụ…) thời gian và địa địa điểm cung ứng, tiêu dùng dịch vụ môi trường diễn ra sự trao đổi dịch vụ và các yếu tố khách quan khác. Do vậy chất lượng của dịch vụ thường giao động, không ổn định và đánh giá mang tính tương đối. Khác với chất lượng của sản phẩm dịch vụ chất lượng của hàng hoá (hữu hình) được xác định từ khi sản xuất trước khi đem trao đổi hay cung ứng cho khách hàng các sản phẩm hàng hoá này có thể đánh giá theo các tiêu chuẩn quốc gia (khu vực hoặc quốc tế). Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không tách rời nhau.
Nghĩa là các hoạt động tạo ra dịch vụ của người cung cấp diễn ra đời đồng thời với quá trình sử dụng dịch vụ của tiêu dùng theo không gian và thời gian, khác với dịch vụ, quá trình sản xuất và tiêu dùng hàng hoá hữu hình có thể tách rời nhau về không gian và thời gian (các trường hợp như sản xuất ở nơi này, chúng tiêu dùng ở nơi khác, sản xuất 8 nhiều, nhưng tiêu dùng ít…). Hơn nữa quá trình trao đổi mua bán hàng hoá hữu hình cũng có sự tách rời nhau, trong như điều kiện không thể xảy ra đối với dịch vụ. Dịch vụ sản phẩm nhưng không thể vận chuyển và cất giữ trong kho Do tính vô hình của sản phẩm dịch vụ, do đặc điểm sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, nên người ta không thể lưu kho các dịch vụ làm “phần đệm” để điều chỉnh quan hệ cung cầu các thị trường như các sản phẩm hàng hoá (hữu hình). Người ta, không cần phải chuyên trở dịch vụ và điều đó cũng thể xảy ra trong quá trình cung ứng các sản phẩm dịch vụ trên thị trường.
Khác với sản phẩm dịch vụ, hàng hoá hữu hình đều có thể được tổ chức dự trữ phục vụ cho các nhu cầu của sản xuất, đời sống sinh hoạt của quá trình lưu thông nhằm đảm bảo các hoạt động này diễn ra một cách bình thường liên tục và thông suốt. Hàng hoá hữu hình phải có quá trình vận chuyển để đưa hàng hóa từ nơi sản xuất, cung ứng đến nơi tiêu dùng.2 Chất lượng dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ 2.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ Theo hiệp hội Chất lượng Hoa Kỳ, “chất lượng là toàn bộ các tính năng và đặc điểm mà một sản phẩm hay dịch vụ đem lại nhằm đáp ứng những nhu cầu đặt ra từ khách hàng”. Gronroos (1984) thì cho rằng“chất lượng dịch vụ là kết quả của một quá trình đánh giá khi khách hàng so sánh giữa kỳ vọng của mình với những gì họ thực tế nhận được”. Đồng quan điểm với Gronroos là Parasuraman và cộng sự (1988) cho rằng “chất lượng dịch vụ là một sự so sánh giữa sự mong đợi về giá trị dịch vụ của khách hàng với giá trị dịch vụ thực tế nhận được do doanh nghiệp cung cấp”.
Chất lượng dịch vụ bao hàm một sự so sánh giữa sự mong đợi và được thỏa mãn. Đó là sự đo lường phân phối dịch vụ phù hợp với sự mong đợi của khách hàng tốt tới mức nào. Đó là thực hiện sự chuyển giao dịch vụ sao cho phù hợp với những mong đợi của khách hàng trên một nền tảng tương thích với mức độ mong đợi. Từ suy nghĩ định hướng này chúng ta có thể phát triển theo các mức như sau: 9 Dịch vụ nhận được Kỳ vọng Chất lượng dịch vụ Giá trị dịch vụ nhận được > Giá trị mong đợi Rất cao Giá trị dịch vụ nhận được >= Giá trị mong đợi Cao Giá trị dịch vụ nhận được < Giá trị mong đợi Thấp Sự thỏa mãn của khách hàng có liên quan tới chất lượng dịch vụ.
Nếu chất lượng dịch vụ rất cao, mức độ thoả mãn vượt quá sự mong đợi, khách hàng sẽ rất thỏa mãn. Chất lượng dịch vụ cao, mức độ thoả mãn đạt được sự mong đợi, khách hàng cảm thấy vui vẻ thỏa mãn. Ngược lại nếu chất lượng dịch vụ thấp, mức độ thoả mãn thấp hơn giá trị mong đợi, khách hàng sẽ thất vọng.2 Đánh giá chất lượng dịch vụ Hiện nay có nhiều công cụ để đánh giá chất lượng dịch vụ như: mô hình chất lượng và chức năng của Gronroos (1984), mô hình tổng hợp chất lượng dịch vụ của Brogowicz và cộng sự (1990), mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985), và mô hình chất lượng dịch vụ trong ngân hàng trực tuyến của Vachirapornpuk (2002). Sau khi tìm hiểu và phân tích những đặc tính đo lường và các ứng dụng cũng như các hạn chế của các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ tác giả nhận thấy mô hình phù hợp cho việc đánh giá chất lượng dịch vụ nội dung số là Mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985)– thang đo SERVQUAL và mô hình SERVPERF của Cronin và Taylor (1992).
Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng:"Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi (kỳ vọng) của khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của họ khi đã sử dụng dịch vụ".Giữa kỳ vọng và những gì khách hàng cảm nhận được miêu tả trong 5 khoảng cách như sau: KC1 (khoảng cách 1):Khoảng cách giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng với kỳ vọng của khách hàng. KC2 (khoảng cách 2):Khoảng cách giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng với các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ. KC5 = KC1 + KC 2 + KC3 + KC4 10 Hình 2.1: Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ (Nguồn: Parasuraman, A; Zeithaml, Valarie A; Bery, Leonard L (1985)) KC3 (khoảng cách 3): Khoảng cách giữa tiêu chuẩn dịch vụ với dịch vụ thực tế cung cấp cho khách hàng. KC4 (khoảng cách 4): Khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ thực tế cung cấp với chất lượng dịch vụ đã thông tin tới khách hàng.
KC5 (khoảng cách 5): Khoảng cách giữa dịch vụ khách hàng nhận được và kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ. Khoảng cách này chính là chất lượng của dịch vụ. Parasuraman và cộng sự đã liên tục kiểm định thang đo và xem xét các lý thuyết khác nhau, và cho rằng SERVQUAL là thang đo đạt độ tin cậy và giá trị. Thang đo này có thể áp dụng trong các loại hình dịch vụ khác nhau như nhà hàng, 11 khách sạn, bệnh viện, trường học, các hãng hàng không, du lịch…“Thang đo SERVQUAL đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên mức độ cảm nhận bởi chính các khách hàng sử dụng dịch vụ trừ đi giá trị kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ”.