CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ DU LỊCH 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu về cảnh quan trên thế giới Nghiên cứu cảnh quan là một hướng nghiên cứu Địa lí tổng hợp, xuất hiện khá sớm, được định hình cả về cơ sở lý luận và những nghiên cứu ứng dụng ở các thập niên cuối của thế kỷ XIX. Trường phái các nhà khoa học Nga: Về cơ bản, khoa học cảnh quan ở Nga xuất hiện sớm, ban đầu tiếp cận nghiên cứu theo hướng tự nhiên đơn thuần.
Đặt nền móng đầu tiên cho khoa học cảnh quan ở Nga là V. Docuchaev với nhận định coi“đất là sản phẩm tương tác lâu dài của các thành phần tự nhiên, là tấm gương phản ánh cảnh quan”. Kế tiếp là các học thuyết về đới tự nhiên: “mỗi đới tự nhiên là một tổng hợp thiên nhiên có quy luật, các thành phần tự nhiên có liên quan chặt chẽ và tạo điều kiện lẫn nhau” (trích theo Oldfied and Shaw, 2015)[115]. Sau đó, các tác giả là A.
Berg đã phát triển lí thuyết về cảnh quan và thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên.Berg đã đưa ra định nghĩa “cảnh quan là một khu vực trong đó tính chất của phù điêu, khí hậu, thảm thực vật và lớp phủ đất hợp nhất thành một tổng thể hài hòa duy nhất.Vysotsky phát triển và đưa ra chỉ số nhiệt ẩm” để phân định các vùng tự nhiên. Một số nhà khoa học (R.Abolin và BB Polynov, I. Larinu) nghiên cứu các vấn đề tổ chức phân cấp của các phức hợp cảnh quan, sử dụng các nguyên tắc phân vùng khác nhau (theo Ixatxenko, 1969)[37]. Từ cuối thể kỉ XX cho đến nay khoa học cảnh quan ở Nga phát triển theo 3 hướng chính: Thứ nhất: Khoa học cảnh quan tiếp cận theo hướng hệ thống, tổng hợp và xuất hiện các hệ thống phân loại cảnh quan ở quy mô khác nhau.
Sochava (1963) đã tiếp cận cảnh quan ở ở ba cấp: hành tinh, khu vực và địa phương; V. Ixatsenko (1964) đã xây dựng bản đồ cảnh quan Liên Xô tỷ lệ 1:4.000 và đưa phân loại cảnh quan thành các đơn vị: 6 nhóm, hàng, lớp, loại cảnh quan (A. Thứ hai, đối tượng nghiên cứu cảnh quan mở rộng từ các nhân tố và hiện tượng tự nhiên đơn thuần sang cảnh quan nhân sinh và ứng dụng. Milkova đã mở ra hướng khoa học cảnh quan nhân tạo, đã đi sâu nghiên cứu vị trí của con người và tác động của con người vào cảnh quan tự nhiên (Theo Karakov, 2008) [153].Ixatsenko với nghiên cứu "Khoa học cảnh quan ứng dụng" (1985) đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa sản xuất của con người và tự nhiên [38].
Những năm đầu thế kỉ XXI, ông đã công bố nghiên cứu Địa lí sinh thái học Nga (2003), đánh giá hiện trạng sinh thái môi trường của nước Nga theo vùng và khu vực dựa trên cơ sở cảnh quan học và yếu tố nhân sinh [143]. Ngoài ra, còn có các nghiên cứu cảnh quan phục vụ quy hoạch để bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên các vùng đất xa xôi, giàu tài nguyên và dễ bị tổn thương với tai biến thiên nhiên như: Antai, Siberia, vùng núi [145, 151]. Thứ ba, nghiên cứu cảnh quan chú ý đến sử dụng hợp lí điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên nước Nga. Các nghiên cứu nổi bật gồm: Cấu trúc cảnh quan Trái đất, định cư và quản lý thiên nhiên” (A.
Ixatsenko, 2008) [152]; Các chỉ số Địa lí cho sử phát triển bền vững (T. Về nghiên cứu cơ sở lí luận có công trình “Quy hoạch cảnh quan với các yếu tố của sinh thái kỹ thuật’’(A.V Drozdov, 2006) đã làm rõ các nguyên tắc khác nhau để tiến hành quy hoạch cảnh quan, chú ý đến sự nhạy cảm của các thành phần cảnh quan, các xung đột môi trường làm cơ sở để quy hoạch cảnh quan và sử dụng đất [150]. Trường phái nghiên cứu cảnh quan ở Tây Âu: Khác biệt với hướng tiếp cận của Nga, các nhà khoa học Tây Âu thường tiếp cận cảnh quan theo hướng nhân sinh, văn hóa và sinh thái cảnh quan. Năm 1908, Paul Vidal De La Blache đã tiếp cận gần đến khái niệm cảnh quan văn hóa hiện nay khi công nhận tầm quan trọng của xã hội địa phương và phong tục tập quán trong việc tổ chức cảnh quan, ông cũng coi cảnh quan tự nhiên và xã hội là sự thống nhất toàn diện.
Sinh thái cảnh quan thực sự ra đời ở đây vào năm 1939, khi Carl Troll đã sử dụng ảnh hàng không để nghiên cứu cảnh quan vùng Đông Phi và chỉ ra mối quan hệ giữa Địa lí và sinh thái. Ông cũng là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “sinh thái cảnh quan” nhằm nhấn mạnh tính thống nhất của sinh thái và cảnh quan. Nhiều nhà khoa học cho đây là “hôn nhân giữa sinh thái học và Địa lí” (Antrop, 2000) [84]. Về cơ bản, khoa học cảnh quan ở Châu Âu có hai đặc trưng chính: 7 Thứ nhất, nghiên cứu cảnh quan có tính chất liên ngành sâu rộng nhằm ứng phó với các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu (Wu, 2006; Wu, 2012)[130, 131].
Phương thức hợp tác thông qua các tạp chí quốc tế làm phương tiện công bố kết quả chung. Chương trình khung Châu Âu (EU) đã thống nhất chính sách khoa học và điều phối các hoạt động nghiên cứu cảnh quan. Năm 2000, các quốc gia thành viên của Hội đồng Châu Âu ký kết Công ước Cảnh quan Châu Âu nhằm đạt được sự phát triển bền vững dựa trên mối quan hệ cân bằng và hài hòa giữa nhu cầu xã hội, hoạt động kinh tế và môi trường [93]. Thứ hai, các nghiên cứu tập trung định lượng và định tính các dịch vụ hệ sinh thái và chức năng cảnh quan.
Thậm chí các nghiên cứu vượt ra ngoài phạm trù nghiên cứu của sinh thái học, bao gồm: tối đa hóa hiệu quả của không gian đất, quản lý không gian sinh thái (môi trường sống) trong đó đặc biệt đề cao đa dạng sinh học. Các nước đã hợp tác để đưa ra các công bố chung, nhất là đưa ra khung các dịch vụ hệ sinh thái, các phương pháp đánh giá và bảo vệ các dịch vụ hệ sinh thái (MEA, 2003; MEA, 2005;Turner, 2015) [83, 112, 127]. Khung dịch vụ hệ sinh thái đã giúp tác giả có nhìn nhận đầy đủ và chuẩn xác hơn về các giá trị của cảnh quan và hệ sinh thái đối với con người, nhất là ở địa bàn miền núi, dịch vụ hệ sinh thái càng cần được quan tâm và bảo vệ. Về phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa học Tây Âu hiện nay có các đặc trưng cơ bản gồm: - Chuyển từ phương pháp nghiên cứu chuyên gia sang phương pháp thống kê, tìm kiếm thông số định lượng về hoạt động của hệ sinh thái; - Sử dụng các phương pháp và công cụ thông tin Địa lí (xử lý thống kê thông tin dạng lưới, mô hình hóa GIS) làm cơ sở phân tích khoa học; - Mô hình hóa nhằm giải thích động lực cảnh quan và sự biến đổi khí hậu toàn cầu và suy thoái môi trường; - Sử dụng tài liệu viễn thám có độ phân giải cao làm cơ sở cho nghiên cứu.
Nghiên cứu cảnh quan ở Bắc Mĩ và Úc: chú ý đến các nghiên cứu có tính ứng dụng, nhưng khoa học cảnh quan không phổ biến đối với các nhà địa lí Bắc Mỹ và Úc (mặc dù ở Mỹ, tạp chí "Khoa học cảnh quan" đã được xuất bản trong nhiều năm). Các nghiên cứu ở các khu vực này tập trung đánh giá đất đai và sinh thái học. Người đầu tiên đưa ra quan niệm cảnh quan là nhà địa lí văn hóa người Mĩ Carl Sauer (1925) trong tác phẩm “Hình thái cảnh quan” ông đã đưa ra quan niệm “cảnh quan là một 8 khoảng đất đai được hình thành bởi các yếu tố tự nhiên và yếu tố văn hóa”. Đặc biệt, ông đã tiếp cận gần đến khái niệm chức năng cảnh quan và dịch vụ hệ sinh thái khi nhấn mạnh đặc tính “trả tiền” của cảnh quan và vai trò của con người trong việc thay đổi cảnh quan Trái Đất (Sauer, 1925) [119].
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên ở đây gắn liền với đánh giá đất nông nghiệp, kiểm kê rừng. Đại diện nổi bật nghiên cứu sau về cảnh quan là R. Forman (1995) với các nghiên cứu tập trung vào 3 nội dung chính: các mối quan hệ không gian giữa các bộ phận của cảnh quan; hoạt động của cảnh quan; sự biến đổi của cảnh quan. Về phương pháp, nghiên cứu cảnh quan - sinh thái ở Hoa Kỳ chú ý sử dụng các phương pháp định lượng hiện đại, mô hình hóa, tạo ra các hệ thống thông tin địa lí dựa trên các sản phẩm phần mềm mới nhất (Forman, M.
Các công trình nghiên cứu cảnh quan tại Việt Nam: các nhà địa lí người Pháp là những người đầu tiên nghiên cứu về điều kiện tự nhiên Đông Dương và Việt Nam nhằm mục đích quân sự, khai thác tài nguyên, quản lý hành chính. Năm 1922, người Pháp đã thành lập “Hội Địa lí Hà Nội” nhằm nghiên cứu Địa vật lý, Địa lí văn hóa, Khảo cổ học, Du lịch Đông Dương. Các nghiên cứu thành phần Địa lí tự nhiên riêng lẻ được công bố dưới dạng bảng tin như: Cấu trúc địa chất Đông Dương thuộc Pháp (Aurousseau, 1926); Robequain (1930) nghiên cứu về Khí hậu Đông Dương đã làm rõ các đặc điểm khí hậu, quy luật của bão và gió mùa (thông qua quan trắc 19 trạm khí tượng ở Bắc Kì và 10 trạm ở Nam Kì Việt Nam) hay Bruzon và cộng sự (1930) đã nghiên cứu và ghi chép kĩ lưỡng về chế độ gió mùa ở bán đảo Đông Dương và các cơn bão; Gourou (1939) phân tích đặc điểm khí hậu cao nguyên LangBiang [133, 136, 138, 139]. Về sinh vật, các nhà địa lí Pháp đi sâu nghiên cứu tài nguyên rừng và đa dạng sinh học ở Việt Nam.
Năm 1918, Chevalier là người đầu tiên đưa ra bảng phân loại thực vật rừng Bắc Bộ Việt Nam, đây cũng là bảng phân loại rừng nhiệt đới Châu Á đầu tiên trên thế giới. Thành tựu nổi bật nhất của các nhà địa lí Pháp thời kì này là lần đầu tiên xây dựng được hệ thống bản đồ về rừng, khí hậu, thảm thực vật, hệ thống suối khoáng thuộc Đông Dương.