mở đầu cho trang sử xuất khẩu lương thực của Việt Nam (Nguyễn Tấn Phát, 2006). Tuy nhiên, “Khoán 10" chưa đề cập quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân và việc xây dựng hợp tác xã mới. Về mặt pháp lý đất nông nghiệp vẫn thuộc quyền quản lý của HTXNN. Cơ chế này làm cho hộ nhận khoán không thỏa mãn, họ cảm thấy bị thiệt thòi, từ đó không thấy hấp dẫn để đầu tư tăng năng suất.
Từ đó Đảng và Nhà nước ta tiếp tục tìm kiếm những quyết sách nhằm đổi mới mạnh mẽ hơn về quan hệ của hộ xã viên với ruộng đất nhận khoán tạo động lực mới trong nông nghiệp. Luật đất đai 1993 ra đời bước tiếp tục đổi mới quan trọng trong hệ thống các chính sách quản lý, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta. Theo đó, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Các quyền này chỉ có giá trị trong thời hạn giao đất.
Luật cũng quy định thời gian giao đất được ổn định trong 20 năm đối với cây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm. Hết thời hạn giao đất nông dân 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có thể được gia hạn sử dụng tiếp nếu có nhu cầu và chấp hành tốt các quy định quản lý đất đai khác của Nhà nước. Điểm mới của Luật đất đai năm 1993 đi cùng với việc giao đất ổn định đã quy định cụ thể về nghĩa vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất của Nhà nước, để người nông dân có quyền tự chủ cá nhân trong việc canh tác trên mảnh đất được giao, nhờ đó đã có tác dụng khuyến khích nông dân tìm phương thức sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả hơn. Luật đất đai năm 1993 được tiếp tục sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, năm 2001 năm 2003, 2013, trong đó có quy định chế độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp được giao cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo tinh thần: tất cả những hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài có quyền sử dụng đất đều được Nhà nước cấp giấy CNQSD đất.
Việc giao đất, cấp giấy CNQSD đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhằm tạo điều kiện cho họ yên tâm đầu tư thâm canh trên diện tích đã được giao, là vật bảo đảm về mặt pháp lý để người sử dụng đất thực hiện các quyền của họ mà pháp luật đã quy định. Đó là cơ sở để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển (Chính phủ,1993). CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP 2. Manh mún đất đai và sự tất yếu của dồn điền đổi thửa ở Việt Nam 2.
Khái quát về manh mún đất đai a. Khái niệm Manh mún đất đai, nghĩa là một hộ nông dân có nhiều thửa ruộng, là một trong những đặc điểm quan trọng của nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển. Ở Việt Nam manh mún đất đai rất phổ biến, đặc biệt ở miền Bắc. Theo con số ước tính, toàn quốc có khoảng 75 triệu thửa đất canh tác đã giao cho 9.259 hộ gia đình, cá nhân sử dụng, trung bình một hộ nông dân có khoảng 7-8 mảnh (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2003).
Manh mún đất đai được coi là một trong những rào cản của phát triển sản xuất nông nghiệp nhất là sản xuất trồng trọt, làm cản trở quá trình dịch chuyển từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa cho nên rất nhiều nước đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất đai, ví dụ như Kenya, Tanzania, Rwanda, Albania, Bulgaria. Việt Nam cũng đang thực hiện chủ trương này trong những năm gần đây. Dưới quan điểm kinh tế nếu manh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành khác hiệu quả hơn. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai.
Tuy nhiên, mức độ manh mún đất đai cũng mang lại một số lợi ích cho nông dân. Do đó ở nhiều nơi nông dân muốn duy trì một mức độ nào đó của tình trạng này. Manh mún ruộng đất được hiểu trên hai khía cạnh: - Sự manh mún về mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) có quá nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ và bị phân tán ở nhiều xứ đồng. - Sự manh mún thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất Những nguyên nhân sau dẫn đến tình trạng ruộng đất manh mún: - Do sự phức tạp của địa hình đất nước ta, đất đai bị chia cắt theo 3 dạng: đất cao, đất vàn và đất thấp trũng. Đây được xem là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ruộng đất manh mún. - Chế độ chia đều ruộng đất cho con cái. Ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả con cái sau khi lập gia đình và tách hộ ra ở riêng.
Vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ. - Các hộ gia đình sản xuất nhỏ lẻ mang tâm lí ngại thay đổi ruộng đất vì họ đã quen với tư duy, tập quán sản xuất, phương thức canh tác trên thửa đất quen thuộc. - Do phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu, có xa, có gần khi thực Nghị định 64/CP. Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông nghiệp và quản lý Nhà nước ở địa phương Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra những tác động tiêu cực của sự manh mún ruộng đất gây khó khăn cho người nông dân sản xuất và nhà quản lý, cụ thể như sau: - Manh mún ruộng đất, dẫn đến giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp do bờ ngăn, bờ thửa (theo tính toán có thể làm giảm từ 2,4-4% diện tích đất nông nghiệp).
- Manh mún ruộng đất làm hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, hạn chế việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Manh mún ruộng đất làm tăng chi phí sản xuất cao hơn do chi phí lao động cao bởi nông dân phải tốn nhiều thời gian hơn để đi từ mảnh ruộng này đến mảnh ruộng khác hoặc thực hiện tưới tiêu cho nhiều mảnh nhỏ hoặc do chi phí vận chuyển đầu vào và đầu ra cao hơn. - Gây khó khăn, phức tạp và tốn kém cho công tác quản lý đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tóm lại, tình trạng manh mún ruộng đất dẫn đến việc sản xuất đạt hiệu quả thấp, chất lượng sản phẩm thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trường, không đáp ứng được việc xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa, gây cản trở cho quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn.
Vì thế Đảng và Nhà nước ta chủ trương cần phải dồn điền đổi thửa tạo ra sự tươi mới trong sản xuất nông nghiệp. Khái niệm dồn điền đổi thửa a. Khái niệm của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp Từ “Dồn điền đổi thửa” (DĐĐT) xuất hiện trong quá trình phát triển của đất nước, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp. Tùy vào từng địa phương có thể có các tên gọi khác nhau, có nơi thì gọi là “Dồn đất đổi ruộng” có nơi thì gọi là “Dồn điền đổi thửa”.
Bản chất của quá trình này là dồn ghép, chuyển đổi ruộng đất từ các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn hay còn gọi là quá trình tích tụ ruộng đất nhằm sắp xếp quy hoạch lại ruộng đất, khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất, tổ chức thiết kế lại đồng ruộng, hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng, nâng cao hệ số sử dụng đất, đẩy nhanh chuyển dịch sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa; phát triển kinh tế hộ và trang trại, củng cố quan hệ sản xuất, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ( Đào Thế Anh, 2004). Vai trò của công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp Cuộc cải cách kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn Việt Nam ở những năm đầu thập kỷ trước đã đem lại những thành quả to lớn về mặt kinh tế, xã hội cho đất nước. Từ một nước nhập khẩu lương thực, thực phẩm là chủ yếu, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, chúng ta đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu lớn trên thế giới về một số mặt hàng nông sản như: gạo, cà phê, tiêu, thuỷ sản… thu nhập và đời sống của người dân luôn được cải thiện. Tỷ lệ đói nghèo giảm đáng kể, đặc biệt là ở nông thôn…đóng góp vào thành quả to lớn trên không thể không kể đến các chủ trương, chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước đã ban hành trong quá trình đổi mới vừa qua.
Một trong số đó là chủ trương dồn điền đổi thửa đất 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nông nghiệp. Đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, là hướng đi tất yếu để đưa nền nông nghiệp vốn rất manh mún, nhỏ lẻ phát triển thành sản xuất hàng hoá quy mô lớn. Sau hơn mười năm thực hiện, từ những ý tưởng mạnh dạn ban đầu rồi trở thành chủ trương lớn, dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp đã thu được những thành tựu đáng kể. - Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp khắc phục tình trạng đất nhỏ lẻ, phân tán.
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân đã liền khoảnh, liền khu, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ cải tạo ruộng đồng, thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tiết kiệm chi phí sản xuất và tạo điều kiện tốt hơn cho cơ giới hoá. Giảm bớt thời gian đi lại vận chuyển, thu hoạch cho các hộ nông dân. Tăng thêm diện tích canh tác do giảm bớt diện tích đất để làm bờ ruộng. Tạo điều kiện hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh cũng như thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất góp phần thực hiện mục tiêu cánh đồng có thu nhập cao cho các địa phương.