Chương 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu có liên quan đến chủ đề Luận án 1. Những nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến chủ đề Luận án Đã có nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã công bố các công trình về di dân và hiện trạng về việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động di dân làm việc tại các thành phố nói chung, khu vực phi chính thức nói riêng, Có thể nêu lên một số công trình như sau: Trước hết là những nghiên cứu về khu vực phi chính thức Đã có nhiều nghiên cứu về khu vực PCT. Nghiên cứu của Hart (1973) đã đưa ra thuật ngữ “Khu vực kinh tế phi chính thức” để mô tả một khu vực kinh tế truyền thống ở các nền kinh tế đang phát triển.
Nguyên gốc, sự phân biệt giữa khu vực kinh tế chính thức và PCT là dựa trên sự phân biệt giữa lao động được trả lương và lao động tự làm. ILO (2002) đã đưa ra khái niệm rộng rãi hơn khi coi Kinh tế phi chính thức bao gồm Khu vực KTPCT và Việc làm PCT. Ở Việt Nam, năm 2007, Viện Khoa học Thống kê và Đơn vị nghiên cứu Phát triển, Thể chế và Phân tích Dài hạn (DIAL) đã thiết kế một lược đồ điều tra để thu thập thông tin về khu vực KTPCT và việc làm phi chính thức ở Việt Nam. Lược đồ này được xây dựng có sự tham khảo các khuyến nghị của các tổ chức quốc tế, có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Thứ hai, nghiên cứu về lao động phi chính thức Theo cơ quan Thống kê Liên hợp quốc đã đưa ra khái niệm về lao động làm thuê của khu vực phi chính thức ở một số quốc gia. Braxin coi đó là lao động làm thuê không có sổ lương; Mehicô coi đó là lao động làm thuê không tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nhà nước và tư nhân qua công việc của họ; Theo quan niệm của Parama, đó là lao động làm thuê không có hợp đồng lao động, cộng với lao động làm thuê có hợp đồng lao động nhưng không được trả bảo hiểm xã hội trực tiếp (không bao gồm lao động làm thuê đã nghỉ hưu hoặc được hưởng trợ cấp không được tiếp tục thanh toán bảo hiểm xã hội)”; Mali coi đó là lao động làm thuê không được người chủ đóng bảo hiểm xã hội, và không có trong danh sách được thưởng năm và trả chi phí ốm đau; Cộng hoà Moldova gọi đó là lao động làm thuê mà người chủ không phải đóng bảo hiểm xã hội, hoặc là không được thưởng năm (hoặc hoa hồng), hoặc những 7 người không được trả chi phí khi bị ốm hoặc bị tai nạn; Liên bang Nga gọi đó là lao động làm thuê không hợp đồng; Nhật Bản quan niệm đó là lao động làm thuê không được đăng ký bất kỳ loại bảo hiểm xã hội nào; Ấn Độ coi đó là lao động làm thuê không được hưởng bảo hiểm xã hội, thưởng năm hoặc trả chi phí khi bị ốm” (Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO, 2007). Thứ ba, nghiên cứu về việc làm phi chính thức và việc làm của lao động khu vực phi chính thức Hội nghị Thống kê lao động quốc tế 15 và 17 xác định năm loại việc làm theo tình trạng công việc là lao động tự làm, chủ sử dụng lao động, lao động gia đình, lao động làm công và thành viên của nhà sản xuất theo ba loại đơn vị sản xuất kinh doanh là khu vực kinh tế chính thức, khu vực kinh tế phi chính thức và hộ gia đình. Theo đó đã xác định rõ các dạng việc làm phi chính thức.
(Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, 2002) Theo Linh trúc (2004), tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, lực lượng lao động tham gia vào nền kinh tế phi chính thức chiếm một phần khá lớn. Tại Việt Nam, việc làm trong khu vực phi chính thức phần lớn những việc làm mới đã được tạo ra từ khu vực kinh tế phi chính thức. Họ gồm những lao động (LĐ) làm việc trong các DN phi chính thức (quy mô sản xuất nhỏ hoặc không phù hợp với quy định pháp luật); trong các doanh nghiệp chính thức nhưng công việc không được sự bảo vệ của xã hội, luật lao động; người làm việc trong hộ gia đình (giúp việc nhà) và lao động ăn lương trong nhiều khu vực, kể cả khu vực Nhà nước, nhưng công việc không ổn định. Dễ nhận ra nhất là những người làm việc tự do (buôn bán, khuân vác, dịch vụ đơn giản) hay tự nguyện làm công cho người khác mà không hề được ký hợp đồng lao động.
Nghiên cứu của Roxana Maurizio về Lao động phi chính thức và nghèo đói ở Châu mỹ La tinh. Trường hợp của Argentina, Brazin, Chile và Peru (Jean-Pierre, Đỗ Hoài Nam và cộng sự, 2013) đã phân tích một số đặc điểm của lao động làm việc phi chính thức (IE) và việc làm trong khu vực phi chính thức (EIS) tại bốn quốc gia là Argentina, Brazil, Chile và Peru. Thứ tư, nghiên cứu về di dân tìm làm việc phi chính thức tại các đô thị Công trình Life earnings and Rural-Urban Migration (Kiếm sống và di cư nông thôn thành thị) của tác giả: Robert. Lucas, Jr tháng 6/2002 đã nghiên cứu thực trạng di dân ở các nước Brazil, Philippin, Hàn Quốc, Mexico và phương thức kiếm sống của dân di cư ở các nước này.
Công trình The earnings experience of rural-urban migrants in Korea (Kinh nghiệm kiếm sống của người dân di cư nông thôn thành thị ở Hàn Quốc) của các tác 8 giả Bun Song Lee (Đại học Seoul) và Joshep. Phillip ( Đại học Creighton), Thời báo Kinh tế quốc tế, mùa đông năm 1997 đã phân tích kinh nghiệm thu được qua việc nghiên cứu dân di cư Hàn Quốc, cung cấp các dữ liệu dân di cư toàn quốc năm 1983 và các chính sách về lao động, việc làm, thu nhập và các chính sách xã hội khác đối với dân nhập cư. Công trình với tựa đề: Social factors of migration from rural to urban areas with special reference to developing countries: the case of Korea (Các yếu tố xã hội của di cư nông thôn thành thị ở các nước đang phát triển: Nghiên cứu tình huống của Hàn Quốc) của tác giả Hyung Kook Kim, tốt nghiệp Đại Học Seoul, được xuất bản tại Pari, tháng 5/1980 đã phân tích rõ thực trạng di dân Hàn Quốc từ năm 1961 đến năm 1975, phân tích các thói quen di dân từ nông thôn ra thành thị (Seoul). Trên cơ sở đó đã đề xuất các chính sách giải quyết thực trạng di dân từ nông thôn lên thành thị, các chiến lược phát triển kinh tế và chính sách dịch chuyển dân số.
Công trình Rural-urban migration and the social mobility of individuas in Republic of Korea: an analysis of life history data (Di cư nông thôn thành thị và biến động xã hội của người dân ở Hàn Quốc: Phân tích cuộc sống dựa trên số liệu thống kê) của Tai Hwan Kwon (Đại học quốc gia Seoul) và Kwang Hee Jun (Đại học quốc gia Chung Nam), đăng trong Thời báo kinh tế và phát triển Hàn quốc, tháng 12/1990 trên cơ sở nguồn dữ liệu dân di cư từ năm 1949 đến năm 1983 đã nghiên cứu ảnh hưởng của di dân nông thôn, thành thị đến yếu tố xã hội của mỗi cá nhân; So sánh dân di cư và dân bản địa, rút ra những kết luận về sự thành công của người dân di cư so với dân bản địa. Ngoài ra nhiều công trình có liên quan như Kim Kyeong-Duk, 2012 Chính sách công nghiệp hoá nông thôn và thu nhập nông hộ ở Hàn Quốc: Tình trạng di cư nóng từ nông thôn ra thành phố. Du Peng (1998) Dân cư trôi nổi tại các thành phố lớn: vấn đề và những biện pháp đối phó. Thứ năm, nghiên cứu về thu nhập của lao động phi chính thức Cũng đã có một số công trình đưa ra phương pháp luận nghiên cứu về thu nhập của lao động làm thuê trong khu vực phi chính thức.
Nghiên cứu của Roxana Maurizio về Lao động phi chính thức và nghèo đói ở Châu mỹ La tinh. Trường hợp của Argentina, Brazin, Chile và Peru (Jean-Pierre, Đỗ Hoài Nam và cộng sự, 2013) không những phân tích đặc điểm của lao động làm việc phi chính thức (IE) và việc làm trong khu vực phi chính thức (EIS) mà còn phân tích sự phân khúc thu nhập và tình trạng nghèo đói của lao động khu vực phi chính thức tại bốn 9 quốc gia là Argentina, Brazil, Chile và Peru; nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của sự phân khúc thu nhập và nguyên nhân nghèo đói gắn với trạng thái phi chính thức. Nghiên cứu của Viện Khoa học Thống kê (2012) về Khu vực phi chính thức trong thống kê tài khoản quốc gia: Một số vấn đề phương pháp luận thì tài khoản thu nhập lần đầu của lao động làm thuê trong khu vực phi chính thức. Nghiên cứu này chỉ ra, thu nhập của lao động khu vực phi chính thức gồm hai khoản: i)Tiền lương, tiền công bằng tiền hay hiện vật; ii) Tiền thưởng, các khoản phúc lợi.
Thứ sáu, những nghiên cứu về vai trò và những khó khăn thách thức đối với lao động trong khu vực phi chính thức. Theo Linh trúc (2004), tỷ lệ đóng góp 30 - 60% vào thu nhập quốc gia của NLĐ trong các khu vực kinh tế phi chính thức cho thấy nền kinh tế này đã thực hiện được chức năng thiết yếu là tạo ra việc làm và tăng phúc lợi cho cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng. Khu vực này sử dụng nguồn lực vốn cố định một cách hiệu quả thông qua việc kết hợp nguồn vốn thấp với số lượng LĐ đông. Đồng thời, tiết kiệm nhu cầu vốn lưu động bằng cách chia khâu sản xuất và tiêu thụ hàng hóa thành những quy mô nhỏ, dễ quản lý.
Mặt khác, đối với những người nghèo, dân nhập cư, không bằng cấp, hộ khẩu, tay nghề thấp… thì việc được chấp nhận vào làm trong các DN phi chính thức là bước khởi đầu khả thi nhất để họ có thể tạo thu nhập, học tập, nâng cao tay nghề. Tuy nhiên, hiện nay, đối tượng LĐ này vẫn chưa được xã hội công nhận đúng mức cả về mặt pháp lý lẫn tâm lý. Khó mà tìm thấy một công đoàn dành cho những người bán hàng rong hay trẻ em bán vé số, đánh giày. Sự đánh giá của nhiều "người thành phố" đối với "dân nhập cư, dân hàng rong, trẻ đường phố" vẫn có phần xem thường, thương hại.