MỞ ĐẦU 1.1Tính cấp thiết của đề tài Trong năm 2020 vừa qua, cả nhân loại đã phải hứng chịu một cơn đại dịch đến từ Trung Quốc mang tên Covid-19 cho đến nay. Dịch bệnh nguy hiểm này đã làm cả thế giới thiệt hại nặng nề về kinh tế - xã hội và Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động đó với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn gần 3% năm 2020, khoảng 84.4% doanh nghiệp chịu tác động của Covid – 19 mặc dù Việt Nam đã cơ bản khống chế được dịch bệnh. Dịch Covid -19 hiện nay vẫn diễn biến phức tạp trên thế giới, khó đo lường làm ảnh hưởng tới hầu hết các lĩnh vực và đối tượng trực tiếp chịu tác động của dịch bệnh chính là người lao động. Tại Việt Nam, khu vực dịch vụ chịu tác động nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với 72,0% lao động bị tác động, tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng với 67,8% lao động bị tác động; tỷ lệ lao động bị tác động trong khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là 25,1%.
Lực lượng lao động giảm sâu kỷ lục, lao động nữ là nhóm chịu tác động nặng nề hơn so với lao động nam trong bối cảnh dịch Covid-19 (Tổng cục thống kê 2020). Huyện Yên Phong nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Ninh, là một huyện nằm ven sông Cầu, là nơi có nhiều khu công nghiệp đang hoạt động. Các lao động ở đây ít nhiều đều bị tác động bởi dịch Covid -19 ở trong cả lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ. Công nhân bị giảm giờ làm, nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên hay thậm chí là buộc phải nghỉ việc do doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động.
Người lao động ở khu vực dịch vụ cũng vì thế mà ít việc hơn, thậm chí tạm thời đóng cửa do công nhân thắt lưng buộc bụng trong chi tiêu. Cuộc sống của người lao động gặp khó khăn khi bị giảm thu nhập do tác động của dịch bệnh. Xã Đông Tiến, huyện Yên Phong là một xã trọng điểm của tỉnh Bắc Ninh với nhiều nhà máy, xí nghiệp, công ty được xây dựng trên địa bàn đã tạo 14 điều kiện cho xã phát triển về mặt kinh tế, thu nhập của người dân luôn được đảm bảo. Nhưng do đợt dịch Covid -19 vừa qua kéo dài cùng với sự giãn cách xã hội của Nhà Nước, các hàng quán, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đóng cửa và giải thể đã khiến cho người lao động tại nơi đây bị mất đi nguồn thu nhập, thậm chí mất cả việc làm.
Đặc biệt là những người lao động di cư từ nơi khác đến Đông Tiến làm công nhân ở các khu công nghiệp hoặc bán hàng quán phục vụ công nhân các khu công nghiệp cũng bị tác động nặng nề và gặp nhiều khó khăn do họ là đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Hiện nay, các nghiên cứu về lao động di cư khá phong phú, được nhiều tác giả quan tâm. Tuy nhiên, nghiên cứu về sự tác động của dịch Covid – 19 tới đời sống, thu nhập, việc làm, tinh thần và mối quan hệ gia đình của lao động di cư trên một địa bàn cụ thể thì gần như chưa có một nghiên cứu nào. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Tác động của dịch bệnh Covid-19 tới lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh” để khái quát rõ hơn về sự tác động của dịch Covid-19 tới lao động di cư ở Đông Tiến làm khóa luận tốt nghiệp của mình.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở tìm hiểu lý luận và thực tiễn về tác động của đại dịch Covid- 19 tới lao động di cư, đánh giá thực trạng tác động của dịch Covid – 19 tới lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tác động của đại dịch Covid-19 tới lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.2 Mục tiêu cụ thể Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của đại dịch Covid-19 tới lao động di cư.
15 Đánh giá thực trạng tác động của đại dịch Covid-19 tới lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian vừa qua. Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tác động của đại dịch Covid-19 tới lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu - Tác động của dịch Covid-19 tới lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. - Đối tượng phỏng vấn: (1) Người dân gốc Bắc Ninh; (2) Người dân di cư; (3) Chính quyền địa phương 1.2 Phạm vi nghiên cứu 1.1 Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của dịch Covid-19 tới lao động di cư (lao động nhập cư) trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.2 Phạm vi về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh .3 Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp: Từ năm 2017 đến năm nay Số liệu sơ cấp: Từ tháng 9/2020 đến tháng 10/2020 Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 08/2020 đến tháng 01/2021. 16 PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH BỆNH COVID 19 TỚI LAO ĐỘNG DI CƯ 2.
Một số khái niệm cơ bản 2. Lao động Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tác động, biến đổi các vật chất tự nhiên thành những vật phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn của con người (Đức Minh, 2016). Các nhân tố chủ yếu của quá trình lao động là: + Mục đích hoạt động của con người: Trong cơ chế thị trường đây chính là thể hiện “cầu” của xã hội đối với một loại sản phẩm, nó có tác dụng hướng hoạt động lao động của con người vào mục đích cụ thể, bảo đảm lao động là hữu ích và sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận. + Đối tượng lao động: Là những thứ mà lao động của con người tác động vào nhằm làm thay đổi hình thái vật chất của nó và tạo ra những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của xã hội.Người lao động Theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2012 định nghĩa: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
Theo định nghĩa này thì người lao động được giới hạn độ tuổi từ đủ 15 trở lên. Tuy nhiên, Bộ luật lao động cũng đồng thời đưa ra quy định đối với một số công việc có tính chất đặc biệt, người sử dụng lao động được thuê người lao động dưới 15 tuổi, tuy nhiên phải đáp ứng những điều kiện nhất định. 17 Người lao động làm việc trong nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau trong xã hội, phụ trách nhiều vị trí công việc nhờ đảm nhiệm những chức vụ khác nhau trong một tổ chức. Tựu chung lại người lao động được phân loại thành hai nhóm chính: Lao động phổ thông: công nhân, thợ, nông dân làm thuê, người giúp việc, osin… Lao động tri thức: nhân viên, viên chức, công chức, cán bộ, người quản lý.3 Di cư Trong nghiên cứu về nhân khẩu học cũng như địa lý dân cư chưa có một định nghĩa thống nhất về di cư.
Tuy nhiên cũng có một số ý kiến khác nhau về khái niệm di cư: “Di dân (di cư) là một sự di chuyển từ một đơn vị lãnh thổ này tới một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc sự di chuyển về khoảng cách tối thiểu quy định. Sự di chuyển này diễn ra trong một khoảng thời gian di dân xác định và được đặc trưng bởi nơi cư trú thường xuyên” (Liên hợp quốc, 1958). Theo tổ chức di dân quốc tế (IMO) định nghĩa di cư là sự dịch chuyển dân số bao gồm bất kỳ sự dịch chuyển nào của một người hay một nhóm người kể cả qua biên giới quốc gia hay trong một quốc gia. Là một sự di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và người di chuyển vì mục đích khác (trong đó có đoàn tụ gia đình).
Theo Ủy ban kế hoạch Nhà nước đã định nghĩa: Di cư là sự di chuyển dân cư trong nước (từ nông thôn ra thành thị hoặc ngược lại từ vùng này sang vùng khác) và từ nước này sang nước khác. Di cư là biểu rõ nét của sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền, lãnh thổ. Như vậy di cư cũng phản ánh sự phát triển chậm chạp hơn hoặc sự lạc hậu về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng này so với vùng khác, miền này so với miền khác. 18 Đây là một xu hướng ít nhiều có tính phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Như vậy, về cơ bản, di cư là sự di chuyển nơi ở đến một nơi khác trong một thời gian tương đối dài.4 Lao động di cư Công ước số 97 Công ước về người lao động di trú (xét lại năm 1949, ngày có hiệu lực: 22/1/1952): Từ “lao động di trú” là chỉ một người di trú từ một nước này sang một nước khác nhằm làm thuê cho người khác; từ này bao gồm mọi người nào đã được thường xuyên chấp nhận là có tư cách người lao động di trú (Khoản 1 Điều 11). Công ước của Liên Hợp Quốc về các quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ, ngày 18/12/1990 khoản 1 Điều 2 ghi nhận: Thuật ngữ “người lao động di trú” để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân. Các văn bản quốc tế nói trên đều đưa ra các quan niệm liên quan đến lao động di trú có tính quốc tế tức là từ nước này đến nước khác. Trong các cuộc điều tra dân số ở Việt Nam thì di cư được định nghĩa là sự di chuyển của con người một đơn vị hành chính này đến một đơn vị hành chính khác, đó là chuyển đến một xã khác, huyện khác, thành phố hoặc một tỉnh khác trong một khoảng thời gian nhất định.
Tuy nhiên, điều kiện để xác định một người là người di cư cũng có sự khác nhau nhất định.