Chương 1: Một số van đề lý luận về quyền nhân thân và giới hạn quyền nhân thân với lợi ích cộng đồng Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam và thực trạng về giới hạn quyền nhân thân với lợi ích cộng đồng trong đại dich Covid-19 Chương 3: Kiên nghị hoàn thiện pháp luật liên quan tới giới hạn quyền nhân thân với lợi ích cộng đồng. 8 CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN VE QUYEN NHAN THAN VA GIOI QUYEN NHÂN THÂN LIEN QUAN DEN LỢI ICH CONG DONG 1. Một số van dé cơ bản về quyền nhân thân va giới hạn quyền nhân thân vi lợi ích cộng đồng 1. Khái niệm quyền nhân thân Từ trước tới nay, quyên con người được ví là một giá trị cao quý bởi đó chính là thành quả đấu tranh, là kết tinh của mọi sự cố gắng, mọi giá trị của nền văn minh nhân loại.
Ngày nay, quyền con người là giá trị mang tính phổ biến chung của nhân loại, là mối quan tâm đặc biệt và là mục tiêu hành động hàng đầu của các quốc gia trên thế giới. Quyền nhân thân là một trong những loại quyền của quyền con người. Chính bởi vậy, ngày nay, quyền nhân thân cũng đã và đang được xã hội dành sự quan tâm, được pháp luật ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ thực hiện trên thực té. Hiện nay trong khoa học pháp ly nói chung và trong BLDS nói riêng cũng chưa có khái niệm chính thức về quyền nhân thân.
Trên thực tế, nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau đã được đưa ra khi bàn luận về loại quyền này. Nhiều nhà nghiên cứu vẫn đang có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến chủ thể của quyền nhân thân. Hiện nay, qua đánh giá, nghiên cứu chúng tôi nhìn nhận có hai quan điểm khác nhau về quyền nhân thân. Một là, quyền nhân thân chỉ thuộc về riêng cá nhân.
Hai là, quyền nhân thân không những chỉ thuộc về cả cá nhân và còn gắn với các chủ thể khác (như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác). Trên thực tế, một số tác giả, và đề tài nghiên cứu đang nhìn nhận chủ thể quyền nhân thân không những gắn với cả cá nhân mà còn gắn với các chủ thé khác. Dựa trên quan điểm của Trường Dai học Luật Hà Nội: “Quan hệ nhán than là quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của cá nhân hay các tô chức. Việc xác định một giá trị nhân thân là quyên nhân thân phải được pháp luật thừa nhận như là một quyên tuyệt đối của một cá nhân hay tổ chức.
Quyển nhân thân là quyên dân sự gan liền với một chủ thé, về nguyên tắc không thé chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác ” 7. Cùng với quan điểm trên, PGS. Bùi Đăng Hiếu có cách tiếp cận đặc biệt khi tác giả khai thác sâu vào các quy định của pháp luật như Điều 604, Điều 611 BLDS 2005, hay Điều 1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 07 năm 2006 dé tìm ra những quy định của pháp luật gián tiếp quy định chủ thể của quyền nhân thân có thể là các chủ thể khác mà không chỉ dừng lại ở các cá nhân. Từ đó, tác giả đã xây dựng khái niệm về quyền nhân thân: ’PGS.
Dinh Văn Thanh — TS. Nguyễn Minh Tuan (Đồng chủ biên), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập I, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2017, tr. 9 “Quyên nhân thân là quyên dân sự gắn liên với đời sống tỉnh thân của các chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác ”Š.
Trái ngược với các quan điểm phía trên, nhiều học giả lại cho răng quyền nhân thân chỉ thuộc về cá nhân mà không thuộc về các chủ thể khác. Xuất hiện từ BLDS 1995, thuật ngữ về quyền nhân thân đã được các nhà lập pháp chỉ ra: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyên dân sự gắn liên với mỗi cá nhân, không thé chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác ”. Quy định trên được ví như sự khởi đầu, một nền móng vững chắc dé từ đó các nhà nghiên cứu có thé dựa vào dé tìm hiểu và phát triển những quy định có liên quan tới chế định này. Tiếp nối những kết quả này, hai BLDS kế tiếp là BLDS 2005 và BLDS 2015 tiếp tục ghi nhận gần như toàn bộ những giá trị của quy định này.
Dù không đưa ra một quy định rõ ràng nhưng hai van dé lớn đã được các nhà làm luật chỉ ra: (1) Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân; (2) Quyên nhân thân không thé chuyền giao. Tiếp tục nghiên cứu, kế thừa quy định này, tại Công trình khoa học cấp Bộ với đề tài “Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo quy định của BLDS” số đăng ký: 96/98/063/DT, quan điểm về quyên nhân thân được các nhà nghiên cứu đưa ra dưới hai góc độ: - Dưới góc độ chủ quan, quyền nhân thân về dân sự được hiểu là quyền con người về dân sự gắn liền với mỗi cá nhân được thụ hưởng với tư cách là thành viên của cộng đồng kê từ thời điểm người đó được sinh ra va bằng các quyền đó, mỗi cá nhân được khang định địa vị pháp lý của minh trong giao lưu dân sự, do đó, mỗi cá nhân đều có quyền nhân thân riêng và quyền này không thé chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Dưới góc độ khách quan, quyền nhân thân về dân sự của cá nhân được hiểu là chế định pháp luật bao gồm các quy định của pháp luật về các quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân dé đảm bảo địa vị pháp lý cho mọi cá nhân, là cơ sở pháp ly dé cá nhân thực hiện các quyền con người về dân sự trong sự bảo hộ của Nhà nước và pháp luật °. Theo đó, quyền nhân thân được hiểu là quyền con người trong lĩnh vực dân sự, đều gan liền với mỗi cá nhân, không thé chuyền giao và là cơ sở dé phân biệt giữa các cá nhân với nhau.
TS Ngô Huy Cương lại nhìn nhận vấn đề này trên phương diện giữa thể nhân và pháp nhân được quy định tại BLDS Quecbec (Canada) năm 1994 : * Bùi Đăng Hiếu, Khái niệm va phân loại quyền nhân thân, Tạp chí Luật học (7/2009), tr.40 ? Tòa án nhân dân tôi cao, Vai tro của TANDTC trong việc bảo vệ quyên nhân thân cua công dân theo quy định của BLDS, Dé tài nghiên cứu khoa hoc cap Bộ, Sô đăng ký: 96-98-063/DT 10 “1. Mọi thể nhân (every human being) déu có nhân cách pháp lý (judicial personality) và được hưởng day đủ các quyên dân sự. Mọi người (every person) đều có một sản nghiệp (patrimony) ”"”. Theo tác giả, việc nhà làm luật sử dụng các thuật ngữ khác nhau trong hai khoản của điều luật trên có ý nghĩa pháp lý vô cùng quan trọng.
“Thudt ngữ “person” (người) để chỉ cả thể nhân và pháp nhân. Hai loại chủ thể này có một điểm chung là déu có các quyên dân sự liên quan tới sản nghiệp (một khải niệm của truyền thống Civil Law dùng để chỉ quan hệ tài sản trong đó bao gồm cả phan tích sản và phần tiêu sản mà ở Việt Nam hiện nay nhiều người quen gọi là tài sản và nghĩa vụ tài sản). Các quyên nhân thân thuộc về các thể nhân ”."" Tại Luận án Tiến sĩ “Quyên bí mật đời tư theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam” của tác giả Lê Đình Nghị, tác giả đã đưa ra khái niệm quyền nhân thân qua hai cách tiếp cận: - Theo nghĩa khách quan, quyền nhân thân được hiểu là một phạm trù pháp lý bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nha nước ban hành, trong đó có nội dung quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở dé cá nhân thực hiện quyền của mình. - Theo nghĩa chủ quan, quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyên giao quyên này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” Dựa trên cách tiêp cận theo nghĩa chủ quan của tác gia có thê đưa ra quan điêm của tác giả Lê Dinh Nghị vê vân đê trên răng chủ thê của quyên nhân thân chi có thê là cá nhân.
Tại Khoản 1 Điều 25 BLDS 2015, Nhà nước cũng đã chỉ ra việc quy định va thừa nhận quyền nhân thân chỉ thuộc về cá nhân mà không thuộc về các chủ thé khác: “Quyên nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyên dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”. Từ những quan điểm, những ý kiến khác nhau được nhóm chúng tôi tìm hiểu, tiếp thu, học hỏi trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chỉ nên quy định quyền nhân thân chỉ thuộc về cá nhân. Tuy nhiên dé có sự thống nhất trên toàn lãnh thé, tránh được những sai sót, hiểu lầm không đáng có, thiết nghĩ, những cơ quan lập '°Điều 1, BLDS Quechec ( Canada ) năm 1994 '' PGS. TS Ngô Huy Cương, Tính hệ thong cua các quy định về quyên nhân thân trong Dự thảo BLDS (sửa đồi), Khoa Luật - Đại học Quốc gia, 2015 '? Lê Đình Nghị, Quyển bí mật đời tư theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, Luận án Tién sĩ Luật học, Trường Dai học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2008, tr.18 11 pháp cân sớm đưa ra một khái niệm toàn diện và khái quát nhât vê vân đê này.
Chúng tôi xin đưa ra khái niệm vê quyên nhân thân như sau: “Quyên nhân thân là quyền dân sự gắn liền với cá nhân không định giá được bằng tiền và không thé chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Khái niệm về giới hạn quyên nhân thân Quyền nhân thân là quyền cơ bản của con người gắn liền với những giá trị tinh thần của mỗi cá nhân. Trong thời kỳ công nghiệp hóa — hiện đại hóa đất nước như ngày nay, những giá trị về quyền nhân thân ngày càng được pháp luật công nhận, tôn trọng và bảo vệ tốt hơn trong hệ thống pháp luật Việt Nam.