CHƯƠNG 1 AN TOÀN TÀI CHÍNH VÀ ĐẢM BẢO AN TOÀN TÀI CHÍNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1. An toàn tài chính của hệ thống ngân hàng 1. Khái niệm an toàn tài chính của hệ thống ngân hàng Các tổ chức quốc tế như IMF và WB1; Ngân hàng Trung ương các nước; các nhà nghiên cứu hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về an toàn tài chính mà thường sử dụng các khái niệm như ổn định tài chính hay lành mạnh tài chính. Đây là trạng thái mà hệ thống tài chính có thể thực hiện được các chức năng của mình nhằm phân bổ nguồn tiết kiệm đến các cơ hội đầu tư có hiệu quả nhất, hỗ trợ trao đổi hàng hóa…một cách có hiệu quả, an toàn và bền vững.
Trong trường hợp có những cú sốc thì hệ thống tài chính vẫn có khả năng chống đỡ các cú sốc đó và phục hồi ở mức độ cao để có thể thực hiện chức năng của mình mà không bị gián đoạn trong quá trình hoạt động. Ngược lại, mất an toàn tài chính là tình huống mà hệ thống tài chính không thể thực hiện được chức năng của mình một cách có hiệu quả và an toàn, bắt đầu có những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế thực. Có hai trường hợp của mất an toàn tài chính là: (i) Bất ổn tài chính diễn ra khi việc cung cấp các dịch vụ tài chính bị tác động tiêu cực. 1 IMF and World Bank, (2005), Financial Sector Assessment: A Handbook.
2 (ii) Khủng hoảng tài chính diễn ra khi chức năng bình thường của hệ thống không thể hoạt động và là trạng thái nghiêm trọng nhất của hệ thống tài chính. Khủng hoảng tài chính bao gồm khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng nợ. Theo Nghị định 156/2013/NĐ-CP. Nghị định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam thì nhiệm vụ ổn định hệ thống tiền tệ, tài chính gồm: (i) Tổng hợp, phân tích, dự báo tình hình tiền tệ, tài chính; đề xuất các biện pháp ngăn ngừa rủi ro có tính hệ thống trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính; (ii) Xây dựng chính sách, biện pháp ứng phó với khủng hoảng, đảm bảo ổn định hệ thống tiền tệ, ngân hàng, tài chính.
Nghị định mới nhất của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam là Nghị định số 16/2017 ban hành ngày 17/2/2017. Nhiệm vụ ổn định hệ thống tiền tệ, tài chính gồm: (i) Tổng hợp, phân tích, dự báo tình hình tiền tệ, tài chính; đề xuất các biện pháp ngăn ngừa rủi ro có tính hệ thống trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính; (ii) Xây dựng chính sách, biện pháp ứng phó với khủng hoảng, đảm bảo ổn định hệ thống tiền tệ, ngân hàng, tài chính; (iii) Kiểm tra, thanh tra, giám sát ngân hàng; kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động ngoại hối, hoạt động kinh doanh vàng, hoạt động phòng, chống rửa tiền; kiểm soát tín dụng; xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng, ngoại hối và phòng, chống rửa tiền theo quy định của pháp luật. Khủng hoảng tiền tệ là trạng thái mà ở đó một cuộc tấn công vào đồng tiền nội tệ làm sự suy giảm mạnh nguồn dự trữ ngoại tệ và làm đồng tiền nội tệ mất giá nhanh chóng, buộc các cơ quan quản lý phải có các biện pháp phòng vệ bằng cách sử dụng một lượng dự trữ ngoại tệ lớn để bình ổn tỷ giá hoặc nâng mức lãi suất lên cao”. Khủng hoảng tiền tệ có thể diễn ra cùng lúc hoặc kéo theo các dạng khủng hoảng khác.
3 Khủng hoảng ngân hàng liên quan đến khả năng thanh khoản (ngân hàng không còn đủ nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu rút tiền của chủ nợ hoặc người cho vay) và khả năng trả nợ của hệ thống ngân hàng (giá trị hiện tại của nợ lớn hơn giá trị hiện tại của tài sản) và hệ quả là ngân hàng có thể bị phá sản. Khủng hoảng nợ là tình trạng một quốc gia phải đề nghị thương thảo lại về các thỏa thuận vay nợ, hoãn trả lãi và vốn gốc do không có khả năng trả nợ nước ngoài, bao gồm cả các khoản nợ của chính phủ hay của khu vực tư nhân. Theo Tào Hữu Phùng (2004), An ninh tài chính Quốc gia - Lý luận-Cảnh báo - Đối sách đã đưa ra khái niệm an ninh tài chính tiền tệ được hiểu một cách tổng thể là tình trạng tài chính ổn định, an toàn, vững mạnh và không bị khủng hoảng. Trong đó, ổn định được hiểu là duy trì hoạt động bình thường, không có những biến động đột ngột, bất ngờ; ổn định trong sự vận động và phát triển.
Khái niệm này tương đồng với khái niệm ổn định tài chính của quốc tế. Hướng dẫn xây dựng Bộ chỉ tiêu lành mạnh tài chính. Ổn định tài chính là khả năng của hệ thống tài chính trong việc: (i) Nâng cao hiệu quả phân bổ các nguồn lực kinh tế cũng như hiệu quả của các tiến trình kinh tế khác (tích lũy của cải, tăng trưởng kinh tế, giải quyết phúc lợi xã hội); (ii) Đánh giá, quản lý các “rủi ro mang tính hệ thống”; (iii) Duy trì được năng lực thực hiện chức năng chính nêu trên ngay cả khi bị ảnh hưởng bởi cú sốc bên ngoài và/hoặc bởi sự hình thành những mất cân đối lớn trong nền kinh tế. Theo ECB (2013) định nghĩa ổn định tài chính là tổng hòa các điều kiện mà theo đó hệ thống tài chính, gồm các trung gian tài chính, thị trường và cơ 4 sở hạ tầng của thị trường, có khả năng chịu được các cú sốc và giảm thiểu nguy cơ gây gián đoạn chu trình trung gian tài chính nhằm đảm bảo sự phân bổ nguồn lực một cách hợp lý tới các cơ hội đầu tư có khả năng sinh lời.
Từ những phân tích trên, nhóm tác giả đưa ra quan điểm: An toàn tài chính của ngân hàng được hiểu là trạng thái ổn định về tài chính của ngân hàng và khả năng chống đỡ hữu hiệu các biến cố xảy ra. Vai trò an toàn tài chính đối với hệ thống ngân hàng Thứ nhất: An toàn tài chính góp phần ổn định hoạt động ngân hàng Ổn định hoạt động ngân hàng được thể hiện trên hai góc độ: (i) Ổn định huy động vốn: Nhân tố quyết định đến ổn định tiền gửi tiết kiệm, niềm tin của người gửi tiền và khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng và lợi nhuận thu được từ tiền gửi. Bên cạnh đó, tốc độ tăng tiền gửi còn bị chi phối bởi khả năng lựa chọn của người gửi tiền và tập quán tiết kiệm trong dân cư. Các nước đang phát triển có thị trường tài chính chậm phát triển, các công cụ tài chính còn ít, độ rủi ro cao, thêm vào đó là tâm lý tiết kiệm chi tiêu để dành một khoản tiền cho những mua sắm lớn trong điều kiện thu nhập còn thấp nên tiền gửi ngân hàng thường tăng ở mức độ cao.
(ii) Ổn định hoạt động cho vay: Ổn định hoạt động cho vay biểu hiện ở tốc độ tăng các khoản cho vay, tốc độ cho vay chủ yếu phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Vì vậy, an toàn tài chính trong hoạt động cho vay là rất quan trọng cho ngân hàng vì hoạt động cho vay đến nay là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. 5 Thứ hai: An toàn tài chính góp phần nâng cao an toàn hoạt động ngân hàng An toàn tiền gửi là khả năng ngân hàng luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi mà không rơi vào tình trạng nguy hiểm. Để đảm bảo trạng thái sẵn sàng chi trả này ngân hàng cần duy trì dự trữ bắt buộc và cả dự trữ quá mức.
Trong trường hợp dự trữ không đủ, ngân hàng buộc bán các khoản cho vay của mình. An toàn cho vay thể hiện ở các khoản cho vay đã, đang và sẽ thường xuyên được hoàn trả đúng hạn với lãi suất theo đúng hợp đồng tín dụng mà công cụ then chốt là quản lý rủi ro, đa dạng hóa và đảm bảo tiền vay. Để đo lường mức độ an toàn cho vay người ta áp dụng các biện pháp quản lý tài sản Có trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro của từng khoản vay, từ đó tổng hợp thành chỉ số rủi ro cho vay chung của ngân hàng hay cả hệ thống. Thứ ba: An toàn tài chính giúp cho hoạt động của ngân hàng được vững mạnh hơn Vững mạnh của ngân hàng một mặt thể hiện ở quy mô vốn của ngân hàng, từ đó quy định tài sản Có, tài sản Nợ của một ngân hàng.
Mặt khác phải thể hiện được tính hiệu quả quá trình kinh doanh, đầu tư của ngân hàng đó thông qua các chỉ tiêu tài chính đặc biệt là các chỉ tiêu lợi nhuận. An toàn tài chính trong hoạt động ngân hàng có vai trò quan trọng giúp cho ngân hàng ổn định, an toàn và vững mạnh. Chính vì vậy, ngân hàng cần có các chỉ tiêu đánh giá an toàn tài chính một cách cụ thể, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường an toàn tài chính trong hoạt động của ngân hàng trong bối cảnh hội nhập thị trường tài chính thế giới. Các nhân tố tác động đến an toàn tài chính của ngân hàng 1.
Các nhân tố khách quan Thứ nhất: Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế xã hội là tổng hòa các mối quan hệ kinh tế xã hội tác động lên hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Đối mặt với những thay đổi thất thường trên tầm vĩ mô của nền kinh tế, chính là thách thức đặt ra cho các ngân hàng. Chỉ có biện pháp đảm bảo an toàn tài chính của ngân hàng mới giúp ngân hàng vượt qua các biến động của nền kinh tế. Dưới góc độ vĩ mô, kinh tế Việt Nam chưa thực sự có nền kinh tế thị trường toàn diện.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ dỡ bỏ hàng rào thuế quan và bảo hộ mậu dịch buộc các doanh nghiệp trong nước phải tự chống chọi với sức ép từ bên ngoài, chưa tính đến trường hợp là doanh nghiệp gặp khó khăn khi phải cạnh tranh ngoài lãnh thổ. Mặt khác, đối với những doanh nghiệp đang được Nhà nước bao cấp sau khi cổ phần hóa, ngân hàng sẽ phải thu hồi các khoản nợ tồn đọng từ trước. Sự thay đổi mang tầm vĩ mô của nền kinh tế nếu ngân hàng không có biện pháp xử lý và ứng phó kịp thời, hợp lý thì ngân hàng sẽ phải gánh chịu những tổn thất nặng nề.