CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NLTC CHO XD NTM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan các nghiên cứu: 1. Các nghiên cứu có liên quan đến đề vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn và XD NTM Theo David Ricardo (1817)[55], Jonh Keyney (1936) [17], Johnston và Mello(1961)[88] đã đưa ra những lý thuyết kinh tế đánh giá cao vai trò của của nông nghiệp trong phát triển kinh tế. Thứ nhất, nông nghiệp cung cấp lương thực và nguyên liệu đầu vào cho các ngành của nền kinh tế. Hai là, nông nghiệp là nguồn cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế thông qua xuất khẩu nông sản.
Ba là, lĩnh vực nông nghiệp là thị trường trong nước quan trọng cho các ngành công nghiệp, như sản xuất hàng tiêu dùng, máy móc và vật tư nông nghiệp. Bốn là nông nghiệp là nguồn cung cấp lao động dồi dào cho công nghiệp. Năm là, nông nghiệp tạo ra một lượng vốn thặng dư để đầu tư cho quá trình công nghiệp hóa. (2001)[86], [20] đã nhấn mạnh trong chính sách phát triển của các quốc gia đã gắn nông nghiệp với chức năng phát triển kinh tế và xã hội nông thôn, xem xét nền nông nghiệp của các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn liền với thị trường nông sản thế giới; bên cạch đó, rút ra bài học kinh nghiệm trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân ở các quốc gia này.
Cát Chí Hòa (2009)[25], Cù Ngọc Hưởng(2006) [31], Đỗ Tiến Sâm(2008) [56], Nguyễn Xuân Cường (2010) [12], Lê Thế Cương(2013) [11], Nguyễn Kim Bảo(2004)[3], trên cơ sở phác họa bức tranh toàn cảnh thực trạng và biến động của nông thôn Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử đã tập trung làm rõ khái niệm, nguồn gốc hình thành và đặc trưng của vấn đề “tam nông”, làm rõ vấn đề vì sao XD NTM xã hội chủ nghĩa được coi là nhiệm vụ lịch sử trong tiến trình hiện đại hóa ở Trung Quốc. Tác giả chỉ ra công cuộc XD NTM ở Trung Quốc chủ yếu có bốn nội dung: lấy quy hoạch làm đầu tàu; thực hiện “làm việc vì quần chúng nông dân”; chú trọng tăng thu nhập của nông dân; lấy việc phát triển lực lượng sản xuất nông thôn làm căn bản. Các tác giả cho rằng, cho dù là các quốc gia đi trước hay đi sau trong tiến trình hiện đại hóa, họ đều tương đối chú trọng vào công cuộc XD và phát triển nông thôn. Các cách làm này chủ yếu bao gồm: Kịp thời điều chỉnh mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn, quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp; Đẩy Luan van 5 mạnh phát triển nông nghiệp hiện đại; Nâng cao thu nhập cho nông dân; Nâng cao trình độ tổ chức cho người nông dân; Thúc đẩy đổi mới kỹ thuật, bồi dưỡng nông dân theo các mô hình mới, hiện đại.
Trần Quang Minh(2011)[38], Cao Hy Quân, Lý Thành(1992)[49], khi nghiên cứu về nông nghiệp Đài Loan đã khẳng định vấn đề nông nghiệp và nông thôn bao gồm cả các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục cho nên nó vô cùng quan trọng và phức tạp. Trong tương lai, tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân sẽ ngày càng thu nhỏ, nhưng nó vẫn là lực lượng chủ yếu quyết định sự ổn định của nền kinh tế, xã hội và là yếu tố quan trọng để đảm bảo môi trường, cân bằng sinh thái. Các tác giả Trần Quang Minh(2011)[13, 38], Chong-Hyuk Suh, Hyung-Mo Kim (2014) [13] đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của nền nông nghiệp Hàn Quốc và những chính sách nông nghiệp mà Hàn Quốc áp dụng trong giai đoạn 1998 – 2008. đã trình bày các nội dung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn trong phát triển bền vững ở Hàn Quốc, xu hướng phát triển NTM và phân tích rõ phong trào XD “làng mới” của Hàn Quốc.
Các giải pháp chính làm cho phong trào này thành công được đúc kết lại gồm: Kích thích sự tham gia của người dân bằng những lợi ích thiết thực; Phát triển cộng đồng xã hội; Phân cấp phân quyền quản lý và thực hiện dự án; Tăng cường năng lực của lãnh đạo địa phương; Phát huy dân chủ, sức sáng tạo của nhân dân. Từ đó tác giả đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc phát triển nông nghiệp. Những thành công của các chính sách nông nghiệp mà Chính phủ Hàn Quốc đã sử dụng, mang lại sự phát triển vượt bậc cho nền nông nghiệp Hàn Quốc đó là: chính sách mở rộng chương trình chi trả trực tiếp, bảo vệ thu nhập nông nghiệp trước các thiên tai, ổn định giá cả sản phẩm nông nghiệp, phát triển và mở rộng các nguồn thu phi nông nghiệp và các chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh nông nghiệp. Cuốn "Agriculture and Development"(2008)[92], tập hợp những nghiên cứu điển hình về phát triển nông nghiệp của các nhà khoa học trong Hội thảo: "Báo cáo tình hình phát triển của thế giới năm 2008" do World Bank tổ chức tại Berlin.
Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, nông nghiệp là một yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển nền kinh tế ở các quốc gia nghèo. Ba phần tư người nghèo ở các quốc gia đang phát triển sống tại các vùng nông thôn. Để đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa nông nghiệp, các chính sách phát triển nông nghiệp phải xuất phát từ việc giải quyết những thách thức, khó khăn trong tương lai mà sản xuất nông nghiệp gặp phải, đó là sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên và những thách thức của quá trình toàn cầu hóa. Luan van 6 Nguyễn Quan Ngọc, Phan Doãn Đại(1994) [42], Nguyễn Sinh Cúc(2003)[9], đã có những nghiên cứu những vấn đề lịch sử trong phát triển nông thôn nước ta.
Các nghiên cứu này đã cung cấp những dữ liệu rất có giá trị về vai trò của Nhà nước, tính cộng đồng và tính bền vững của mô hình làng xã Việt Nam; những yếu tố tác động đến việc hình thành thiết chế làng xã và mô hình hoạt động của chúng, quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Lưu Văn Sùng(2003)[61], Nguyễn Thiện Nhân(2015)[45], Tổ chức Oxfam và Viện Nghiên cứu và Tư vấn Phát triển (RCD)(2015)[46], Hoàng Văn Hoan[26], Vũ Quốc Tuấn(2011) [82] đã đánh giá ngành nông nghiệp Việt Nam hiện đang đối mặt với các thách thức mới về chất lượng nông sản và phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và tác động của biến đổi khí hậu. Các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng: nếu được tạo môi trường phát triển thuận lợi với các can thiệp chính sách đúng hướng, thông qua các tổ chức nông dân và hợp tác liên kết,người dân sẽ phát huy tiếng nói và hiệu quả sản xuất, tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực tự nhiên và xã hội, từ đó được hưởng lợi ích và chia sẻ rủi ro một cách công bằng hơn. Phát triển hợp tác, liên kết nông dân bền vững được xác định là một nút thắt chính sách quan trọng, nhằm tổ chức lại sản xuất, đổi mới mối quan hệ sản xuất vốn đã tồn tại những bất hợp lý sau một thời gian dài.
Giải quyết bài toán này sẽ giúp giải phóng năng lượng, phát huy tiềm năng và nội lực của các tác nhân, phát huy tối đa những giá trị tích lũy qua nhiều đời, tăng sức cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam, củng cố điểm tựa tinh thần, vật chất vững chắc cho phát triển xã hội trong thời kỳ mới. Tác giả Chu Hữu Quý [52], Đặng Kim Sơn[57-59], Nguyễn Ngọc Hà[23], Phan Đại Doãn [14], Phạm Văn Nam[40] Nguyễn Danh Sơn [60] Nguyễn Thị Tố Quyên[54], Trần Ngọc Ngoạn[41] Phạm Ngọc Dũng, [18] Vũ Văn Phúc [21] nhìn nhận và xem xét vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đặt trên tổng thể toàn nền kinh tế, trong mối quan hệ biện chứng giữa nông nghiệp, nông thôn với công nghiệp, đô thị. Trên cơ sở phân tích thực trạng một số điểm trọng tâm nổi bật trong nông nghiệp, nông thôn, nông dân thời gian từ năm 2000 đến năm 2010 các tác giả đã chỉ ra những tồn tại của nông nghiệp, nông thôn nước ta: thứ nhất, nông nghiệp vẫn manh mún, lạc hậu với giá trị đóng góp cho GDP trong nền kinh tế ngày Luan van 7 càng giảm, cơ cấu nông nghiệp nông thôn chuyển dịch theo hướng tích cực những vẫn còn chậm, nông thôn vẫn nghèo nàn, lạc hậu và ô nhiễm, thu nhập của nông dân thấp và đời sống cực khổ; thứ hai, những vấn đề còn tồn tại trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân hầu hết là nằm ở mặt chất của vấn đề (chất lượng chuyển dịch cơ cấu; chất lượng lao động; chất lượng giáo dục, dạy nghề; chất lượng cơ sở hạ tầng; thu nhập thấp và chất lượng đời sống nông dân kém,…) Để giải quyết những vấn đề tồn tại trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam trước những bối cảnh, cơ hội và thách thức mới trong một mô hình tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2020, đề tài đề xuất một số chính sách như: 1) Phân bổ các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt chú trọng đến việc phân bổ nguồn lực đất đai; 2) Quy hoạch vùng; 3) Phát triển hạ tầng nông nghiệp, nông thôn hiện đại; 4) Nâng cao thu nhập cho nông dân; 5) Thay đổi tư duy, cách thức thực hiện khuyến nông; 6)Tăng hiệu lực, hiệu quả của chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội cho nông dân; 7) Nâng cao năng lực của hệ thống chính quyền nông thôn-phát triển dân chủ và xã hội pháp quyển ở nông thôn… Tác giả Nguyễn Thành Lợi [35], Vũ Văn Phúc [48], Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng[78] đã nêu những vấn đề lý luận chung về XD NTM; Kinh nghiệm quốc tế về XD NTM; Thực trạng XD NTM ở Việt Nam… trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp về phát triển kinh tế nông thôn, về đầu tư XD kết cấu hạ tầng và XD người nông dân mới – là chủ thể của XD NTM. Các tác giả đề xuất các giải pháp triển khai XD NTM như: Tổ chức XD và thực hiện quy hoạch phát triển nông thôn; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với kinh tế thị trường; Áp dụng mô hình kinh doanh đa dạng và tổ chức quản lý phù hợp; Khơi dậy nguồn lực phát triển mới thông qua ứng dụng khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực; Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân để tạo động lực thúc đẩy nông thôn đi lên.