Chương I điều 6 Luật giáo dục nước ta (1998) quy định hệ thống giáo dục quốc dân gồm: Giáo dục mầm non gồm có nhà trẻ và mẫu giáo. Hệ thống tổ chức giáo dục mầm non. Điều 25 Luật giáo dục quy định cơ sở giáo dục mầm non gồm: - Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba đến ba tuổi - Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi - Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng đến sáu tuổi. Vai trò của giáo dục mầm non đối với sự phát triển kinh tế- văn hoá- xã hội đất nước và sự lựa chọn ưu tiên đầu tư giữa giáo dục và kinh tế 1.
Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế- xã hội. Giáo dục vừa có tính độc lập tương đối vừa có mối quan hệ tác động qua lại với tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Phát triển giáo dục là phát triển chất lượng nguồn nhân lực, tăng trưởng và phát triển KT – XH, đầu tư tài chính, ngân sách là các thành tố của sự phát triển. Thứ nhất, theo quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là mục tiêu và là động lực phát triển kinh tế xã hội.
Thứ hai, quan điểm coi giáo dục là công cụ của phát triển kinh tế xã hội. Vấn đề lựa chọn ưu tiên đầu tư giữa giáo dục và kinh tế. Việc xem xét mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với phát triển KT- XH. Thứ nhất, giáo dục chuẩn bị và trang bị cho con người những kiến thức, kĩ năng, phẩm chất và nhân cách cần thiết, mà không có chúng thì không thể có bất cứ một hoạt động KT – XH nào.
Thứ hai, giáo dục không những có trước mà còn tiềm ẩn bên trong những kết cấu hạ tầng có tính vật chất cụ thể của đời sống xã hội. Như vậy, giáo dục cần được ưu tiên đi trước một bước để làm tiền đề cho sự phát triển KT –XH, và bởi vậy giáo dục cần được ưu tiên đầu tư thoả đáng, đặc biệt trong thế kỉ XXI. Về sự công bằng, bình đẳng trong giáo dục. Công bằng, bình đẳng trong giáo dục là một mục tiêu quan trọng trong chính sách phát triển GD – ĐT ở hầu hết các nước đang phát triển.
Vì vậy vấn đề công bằng bình đẳng trong giáo dục được coi là một trong những mục tiêu trung tâm trong chính sách phát triển giáo dục của Nhà nước Việt Nam. Huy động và phân phối các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non 1.Các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non. - Nguồn tài chính từ Ngân sách Nhà nước. - Nguồn vốn ngoài ngân sách vi - Nguồn thu từ học phí - Nguồn đóng góp của người dân - Nguồn viện trợ của các tổ chức xã hội - Các nguồn vốn khác.
Phân cấp quản lý sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non Dựa trên cơ sở phân cấp quản lý của ngành từ trung ương đến địa phương, xác định rõ chức năng nhiệm vụ của mỗi cấp. Trong hệ thống giáo dục mầm non của nước ta do yêu cầu của xã hội hóa giáo dục, hiện tại tồn tại nhiều loại hình khác nhau: trường công lập, dân lập tư thục v. Song, tựu chung lại có hai loại hình giáo dục mầm non là trường mầm non công lập và trường mầm non ngoài công lập. Các loại hình trường mầm non, khác nhau về sự hình thành nhưng đều có chung tính chất, nội dung và mục đích hoạt động đều là những bộ phận hợp thành của hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất, chúng đều là những đơn vị sự nghiệp tự chủ về tài chính, đồng thời đều phải chấp hành các quy định và chế độ tài chính của nhà nước trong việc huy động và sử dụng các nguồn tài chính.
Nội dung cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non và sự cần thiết hoàn thiện cơ chế đó. Nội dung của cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính Thứ nhất, đa dạng hoá về phương thức quản lý: Thứ hai, kết hợp hài hoà giữa cơ chế quản lý của Nhà nước với cơ chế tự vận động của giáo dục trong lĩnh vực tài chính: Thứ ba, xây dựng và ban hành hệ thống đồng bộ các quy định, chế độ tài chính và thực hiện thanh, kiểm tra của Nhà nước và sự giám sát cộng đồng đối với các hoạt động tài chính của cơ sở giáo dục đào tạo. Sự cần thiết hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non vii - Một là, do yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo một cách toàn diện, sâu sắc để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - - Hai là, các cơ sở giáo dục mầm non hoạt động trong nền kinh tế thị trường là các đơn vị sự nghiệp tự chủ về tài chính cung cấp các dịch vụ đặc biệt là “trồng người” mang lại lợi ích lâu dài cho cá nhân và cả xã hội.
Ba là: Do nhu cầu chuẩn hóa của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục mầm non là bậc tiền học đường ngày càng mở rộng về quy mô và tốc độ. Cần phải ưu tiên đầu tư thỏa đáng về mọi mặt, chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho các cháu vào bậc phổ thông Bốn là: Do bản thân sự vận động của cơ chế chính sách nói chung là một quá trình từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện 1. Bài học kinh nghiệm về phát triển giáo dục đào tạo và cơ chế huy động, sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục của một số quốc gia 1.
Kinh nghiệm về phát triển giáo dục, đào tạo của một số nước (Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc) Thực tiễn phát triển KT - XH các nước trong khu vực và trên thế giới những thập kỷ gần đây là minh chứng khẳng định vai trò của GD-ĐT đối với sự phát triển của đất nước. Vì vậy, hơn bao giờ hết các nước đều đánh giá cao vai trò của GD – ĐT và đang gia tăng các nỗ lực đầu tư tài chính của cá nhân, cộng đồng cho phát triển GD – ĐT theo hướng sau đây: 1. Đa dạng hoá các hình thức và kênh giáo dục – đào tạo Các nước ASEAN trong những năm gần đây đặc biệt ưa chuộng phương thức đào tạo “một công đôi việc”: khuyến khích các dự án đầu tư nước ngoài có lợi cho đào tạo tay nghề và kỹ năng quản lý của người bản địa. Đa dạng hoá mức học phí và nguồn tài chính cho GD – ĐT Điểm chung ở các nước thành công trong phát triển kinh tế châu Á – Thái Bình Dương là có mức chi phí cho GD – ĐT khá cao.
Mức chi cho GD – ĐT năm 1997 – 1998 ở một số nước là: Đài Loan: 21% chi ngân sách Nhà viii nước (357 USD/đầu người học/ năm); Hồng Kông; 20,7% (510 USD); Malaysia: 19,3% (167,4USD), Inđônêsia (243 USD); Philippin: 11,4% (147USD), Trung Quốc: 4,2% (64,6USD…). Đầu tư cho GD – ĐT đang được chuyển dần sang khu vực tư nhân Đây là xu hướng nổi bật và bao trùm mang tầm vóc toàn cầu. Nguồn đầu tư từ NSNN tuy vẫn giữ vị trí chủ đạo trong xây dựng nền tảng cho sự nghiệp giáo dục, song ngày càng mang ý nghĩa tạo điều kiện tiền đề cho việc khai thác các nguồn ngoài NSNN cho giáo dục. Những bài học kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam về huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho GD - ĐT - Đối với Việt Nam, bài học lớn nhất mà chúng ta lĩnh hội được từ kinh nghiệm các nước khu vực là coi trọng phát triển nguồn nhân lực như mục tiêu chiến lược và giải pháp hàng đầu cho quá trình CNH, HĐH đất nước.
- Giáo dục- đào tạo là nhân tố quan trọng bậc nhất đến phát triển KT- XH của mỗi quốc gia, cũng như là nhân tố nòng cốt trong phát triển khoa học-công nghệ. Vì vậy Nhà nước cần có chính sách đầu tư thoả đáng và đầu tư ở tầm quốc sách. Phát triển giáo dục phải ưu tiên đi trước một bước, mở rộng phát triển hình thức đầu tư khuyến khích các mô hình giáo dục mầm non ngoài công lập, cung ứng dịch vụ chất lượng cao. - Xây dựng cơ chế quản lý tài chính đảm bảo đáp ứng các nhu cầu mở rộng quy mô và chất lượng, hiệu quả gắn với những mục tiêu công bằng, bình đẳng trong giáo dục.
- Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế diễn ra với qui mô rộng và cường độ ngày càng cao, đòi hỏi nước ta cần tạo ra sự gắn kết hài hoà của quá trình hội nhập trong kinh tế và trong GD – ĐT. ix Chương 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CHO GIÁO DỤC MẦM NON Ở HÀ NỘI 2. Khái quát những đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Hà Nội có liên quan đến giáo dục mầm non 2. Đặc điểm chung về Thủ đô Hà Nội Thành phố Hà Nội mở rộng về địa giới hành chính dân số tăng gấp 2 lần, cơ cấu dân số, trình độ văn hoá chuyên môn, cơ cấu lao động thay đổi và áp lực càng gia tăng lên khu vực nội thành.
Tóm lại, qua phân tích đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của Hà Nội có liên quan đến hoạt động giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng. Nó được xem như là những nhân tố, những điều kiện cho phát triển giáo dục mầm non ở Hà Nội. Khả năng huy động các nguồn lực tài chính cho hoạt động của các cơ sở giáo dục mầm non phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế, chi của ngân sách cho giáo dục và thu nhập của dân cư 2. Tình hình giáo dục mầm non trên địa bàn Hà Nội.
Cùng với sự phát triển của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và chủ trương xã hội hóa giáo dục nhằm động viên toàn xã hội quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo của đất nước, đã làm xuất hiện đa dạng các loại hình đào tạo và các loại trường. Quy chung lại có hai loại trường là trường công lập và trường dân lập. Thực trạng huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non ở Hà Nội.