Chương 1. Những vấn đề chung Trong chương này, chúng tôi trình bày hai vấn đề cơ bản như sau: (1) Khái quát về ca dao và ca dao Nam bộ; (2) Phương ngữ và phương ngữ tiếng Việt. Hai nội dung. này chính là cơ sở lý thuyết quan trọng mà chúng tôi xem là nền tảng để t khai những nghiên cứu tiếp theo.
Khảo sát một số đặc điểm ngôn ngữ thể hiện trong ca dao Nam bộ Trong chương này, chúng tôi trình bày bốn vấn đề quan trọng: (1) Đặc điểm về từ vựng; (2) Đặc điểm về biểu thức ngôn từ; (3) Đặc điềm về câu; (4) Đặc điểm về tô chức văn bản. Chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu và phân tích những nội dung này nhằm làm rõ hơn đặc điểm ngôn ngữ được vận dụng vào trong ca dao Nam bộ. NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG Đối với việc nghiên cứu không riêng bất cứ một chuyên ngành nào, điều bắt buộc là phải dựa vào một nguồn ngữ liệu đáng tin cậy. Thông qua nguồn ngữ liệu đó, chúng ta mới có cơ sở đề tiến hành nghiên cứu vấn đề.
Trong chương này, chúng tôi tiến hành tập hợp, sắp xếp thành một khung lý thuyết, chủ yếu là dựa vào các công trình của những người đi trước Chúng tôi sẽ đi vào trình bày những vấn đề sau: Bang 1. Bảng tóm tắt những vấn đề chung Khải niệm Khái quát về | Khái quát về ca dao Phân loại ca dao và ca Thi pháp ca dao NHỮNG | dao Nam bộ _ | Khái quát về ca đao Nam bộ Khái niệm VAN Đặc điểm ĐÈ | Phươngngữ Khái niệm CHUNG | tiếng Việt và | Phương ngữ tiếng Việt Phân vùng phương ngữ Đặc điểm Nam bộ Phương ngữ Nam bộ 1. Khái quát về ca dao và ca dao Nam bộ 1. Khái quát về ca dao.
Khái niệm Từ lâu, đời sống tinh thần của con người ngày càng được quan tâm, chú trọng. Do vậy, rất nhiều hình thức giải trí khác nhau đã ra đời. Văn học là một trong những hình thức giải trí có tính chất “bác học ” không thê không nhắc đến. Nói tới văn học, không thể bỏ qua một bộ phận vô cùng quan trọng và đã xuất hiện từ rất xưa: Văn học dân gian (bao gồm các thể loại: Thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cô tích, ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, ca dao, câu đó, vè, truyện thơ, chèo).
Ca dao là một thuật ngữ rất quen thuộc với giới nghiên cứu về lĩnh vực văn học ngày nay. Tuy được phát hiện khá trễ so với các loại hình nghệ thuật khác nhưng ca § dao lại là một trong những lĩnh vực được nhiều người quan tâm, tìm tòi, nghiên cứu nhất Mặc dù rất được chú ý khai thác, và có lẽ cũng vì có quá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực này, song mỗi người lại có một quan điểm khác nhau, thế nên, đến nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về ca dao. Sau đây là một số khái niệm, cách hiểu khá tiêu biểu: Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là câu, là bài hát ngắi được truyền miệng từ người này sang người kia, từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng những lời văn giản dị. Tuy nhiên, cũng có cách hiểu khác: Ca dao là câu hát phổ thông trong dân gian; chữ ca có nghĩa là ngân giọng dài ra; dao là hát trơn không cần đệm.
“Tục ngữ ca dao đân ca Việt Nam” [46] có đoạn: “Người xưa gọi ca dao là phong đao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại” [46, tr. Vì vậy, dần dần tên gọi phong dao ít được sử dụng, nhường chỗ cho. khái niệm ca dao. Trong “7ổng rập văn học dân gian người Việt” [33], tác giả nhận định: “Ca đao được hình thành từ dân ca.
Khi nói đến ca dao người ta thường nghĩ đến lời ca” [33, tr. Các tác giả cũng trình bày một số luận điểm khác nhằm tìm ra một khái niệm chung nhất về ca dao. Họ cho rằng: “Ca đao là thơ dân gian, có nội dụng trữ tình và trào phúng, bao gém hàng loạt những lời. Người ta có thẻ hát, ngâm, đọc (và cả xem bằng mắt sau khi ca dao đã được ghỉ chép lại).23] “Từ điển thuật ngữ văn học” [24] có viết: “Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đằng nghĩa với dân ca.22-23] Trong “Thi pháp ca dao”, các tác giả quan niệm: “Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó cứ tước bới tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi.
thì sẽ déu là ca dao. Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biễn rộng rài, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách. Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian ” [34, tr. Theo “Lich sir van hoc Viét Nam” [43] cua Bai Van Nguyén, Duong Quang Hàm, các tác giả khẳng định: “Ca dao là những bài có hoặc không có chương khúc, 9 sáng tác bằng thể văn vân dân tộc (thường là lục bát), đề miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn dat tình cảm.3] Như đã đề cập ở trên, khái niệm ca dao vẫn chưa có sự thống nhất nhưng nhìn chung các công trình nghiên cứu đã đưa ra các quan điểm có nhiều nét tương đồng.
“Tóm lại, chúng tôi nghĩ rằng, ca dao là một thể loại quan trọng văn học dân gian, được hiểu là những sáng tác có chương khúc, được hình thành bằng thể văn vần nhằm tự sự, miêu tả hoặc đề biểu đạt tình cảm, cảm xúc. Nó là sự kết hợp các tỉnh túy nghệ thuật để rồi trở thành truyền thống cho việc biểu hiện nguồn thơ dân gian. Qua đó, ta có thể hiểu đơn giản: “Ca dao là bài hát ngắn có hoặc không có giai điệu, chương khúc ” 1. Phân loại Đồng dao: Là một loại thơ ca dân gian truyền miệng của trẻ em Việt Nam.
Đồng dao ở các vùng miền khá giống nhau về ội dung, chỉ khác nhau do mỗi vùng sẽ sử dụng những từ ngữ riêng thuộc tiếng địa phương. Nó bao gồm nhiều thê loại: Các bài hát, câu hát trẻ em, lời hát trong các trò chơi, bài hát ru em. Trước kia, đồng dao rất phổ biến nhưng ngày nay nó không còn được quan tâm như trước nữa. Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu bài đồng dao về đề tài “kéo cưa”: Ở miền Nam “Kéo cưa kéo ít Làm ít ăn nhiều Đụng đâu ngủ đó Nỡ lấy mắt cưa Lấy gì mà kéo.” Ở miền Bắc: “Kéo cưa lừa xẻ Ông thợ nào khỏe Thì ăn cơm vua Ông thợ nào thua Về bú tí mẹ.” Ca dao lao động: Những bài ca dao thuộc nhóm này thường tái hiện lại quá trình lao động sản xuất, niềm vui, nỗi buồn, cảm giác hoang mang, lo lắng.
trong lúc đối mặt với hoàn cảnh khó khăn ở nơi mà họ phải vất vả mới có được cuộc sống tốt. Những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động: 10 *Bao giờ cho đến tháng hai, Con gái làm có, con trai be bờ. Gái thì kế phú ngâm thơ, Trai thì be bờ kể chuyện bài bây." Ca dao ru con: Con cái là niềm vui, niềm hạnh phúc lớn lao nhất của cha mẹ. Sức khỏe, sự bình yên của con hẳn luôn được các đắng sinh thành đặt lên vị trí hang đầu.
Một giấc ngủ ngon có lẽ luôn là điều mà người cha người mẹ nào cũng muốn mang lại cho con cái. Bài hát ru, vì lẽ đó, dường như là một yếu tố không thê vắng mặt trong mỗi gia đình: “Ru con con ngti cho lành Cho mẹ gánh nước rửa bành cho voi Muốn coi lên núi mà coï Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh công." Ca dao nghỉ lễ, phong tục: Những bài ca dao thuộc nhóm này thường được dùng để tế thần, tế những người khuất mặt mà con người cho rằng có thể phù hộ cho. mình làm ăn thuận lợi, chống lại bệnh tật, hoa trái được mùa. hoặc những bài ca dao.
này nói về những ngày trọng đại như lễ tết, lễ hội của địa phương. *Dù ai đi ngược về xuôi "Nhớ ngày giỗ tô mông mười tháng ba. Dit ai buén ban gan xa Nhé ngay gié T6 thang ba mong mudi.” Ca dao trào phúng. bông đùa: Những bài ca dao thuộc nhóm này thường thể hiện sự châm biếm, mia mai hoặc có cả sự yêu thương, quý trọng, đôi khi xen lẫn tự hào.
dưới những cách nói hóm hinh: “Lỗ mũi mười tám gánh lông Chông yêu chẳng bảo râu rông trời cho Đêm nằm thì ngáy o ö Chẳng yêu chông bảo ngáy cho vui nhà Đi chợ thi hay ăn qua Chông yêu chông bảo về nhà đỡ cơm Trên đầu những rác cùng rơm Chẳng yêu chông bảo hoa thơm rắc đâu.” "1 Ca dao trữ tình: Trong cuộc sống, không thể nào không tồn tại tình yêu: Yêu quê hương đất nước, yêu gia đình, yêu bạn bè, yêu thiên nhiên, yêu động v: inh yéu nam nữ. Tình yêu khiến cho con người trưởng thành và hoàn thiện bản thân nhanh hơn: “Duong xa thi thật là xa Muon người làm mối cho ta một người Một người mười chín đôi mươi Một người vừa đẹp vừa tươi như mình.” Bên cạnh những tiểu loại chúng tôi vừa trình bày, ca dao còn có thê được phân thành một số tiểu loại nhỏ hơn, dựa trên một số tiêu chí khác (ca dao san vat, ca dao biết tên tác giả. Tuy nhiên, do có giới hạn của luận văn, và do đối tượng luận văn lựa chọn nghiên cứu, những thể loại này không tác động trực tiếp đến đề tài, chúng tôi xin phép không nhắc đến. Thi pháp ca dao.
' Khái niệm thi pháp Trong “7i pháp ca dao” [34], Nguyễn Xuân Kính nhận định: “Ngày nay, chúng ta hiểu thi pháp là tổ hợp những đặc tính thẩm mĩ- nghệ thuật và phong cách của một hiện tượng văn học, là cấu trúc bên trong của nó, là hệ thống đặc trưng của các thành tố nghệ thuật và mối quan hệ giữa chúng. Thuật ngữ khoa học thường có tính chất ước lệ. Chữ thi ở trong thi pháp là chỉ toàn bộ văn học, dấu ấn của một thời xa xưa, khi không chỉ thơ trữ tình, mà cả sử thỉ, kịch đều viết bằng lời tho.15] “C6 người quan niệm thi pháp là sự tổng hợp các thành tố (hoặc các cấp độ) của hình thức nghệ thuật của tác phẩm ngôn từ: cốt truyện, kết cấu, các hiện tượng ngôn ngữ nghệ thuật, nhịp và vẫn.