Đặt vấn đề Vốn được xem là lá phối xanh của trái đất, rừng có vai trò quan trọng trong công cuộc chống biến đổi khí hậu toàn cầu, cung cấp oxy cho khí quyên và giữ lại lượng lớn CO2: thải ra. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một một yêu cầu, nhiệm vụ không thé trì hoãn đối với tat cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, đó là một thách thức vô cùng to lớn đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức thuộc các cấp trong một quốc gia và trên thế giới nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của mình trong công tác phục hồi va phát triển rừng. Qua đó yêu cầu đặt ra cho con người là phải bảo vệ và gây trồng rừng là giải pháp toi ưu dé giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu do sự nóng lên toàn cầu. Tuy rất đa dạng và phong phú nhưng hiện nay diện tích rừng Việt Nam đang bị suy giảm một cách nhanh chóng đặc biệt là rừng tự nhiên, diện tích rừng ngày càng mat đi, kéo theo là những hậu quả tat yếu như hạn hán, lũ lụt, mưa bão xảy ra ngày càng nhiều với cường độ ngày càng mạnh mẽ, đe doa cuộc sống của con người và con người đã phải trả giá dat cho những hậu quả đối với rừng mà mình đã gây ra.
Chính phủ Việt Nam coi rừng là một nguồn tài nguyên sinh thái quan trọng, có giá trị cho sự phát triển kinh tế xã hội và hạnh phúc của cộng đồng trên đất nước. Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc thích nghi với biến đôi khí hậu thông qua những chức năng môi trường như chống xói mòn và đảm bảo tuần hoàn nước. Rừng cũng có một vai trò xã hội, góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập. Hiện nay có khoảng 25 triệu người Việt Nam có 20 - 40% thu nhập hàng năm đến từ rừng.
Vai trò của rừng cũng được thể hiện ở vùng sâu vùng xa, vùng cao nơi 10% dân cư sông bên trong hoặc gần các khu rừng (diện tích xấp xi 12 triệu ha) là người nghèo hoặc người dân tộc thiểu số. Nhưng do công tác quản lý, bảo vệ và khai thác rừng ở Việt Nam còn hạn chế nên tài nguyên rừng ở Việt Nam ngày càng suy kiệt. Động cơ chính của nạn phá rừng và suy thoái rừng ở Việt Nam là khai thác gỗ (hợp pháp và bat hợp pháp), chuyền đổi đất lâm nghiệp sang làm cơ sở hạ tầng, trồng cây độc canh hoặc các loại cây trồng hàng năm và cháy rừng. Các nguyên nhân cơ bản khác là quản trị kém, cộng đồng địa phương thiếu quyền hưởng dụng, thực thi pháp luật không hiệu quả, nhu cầu thị trường đối với cây trồng nông nghiệp và các sản pham độc canh gia tăng.
Trong những năm qua nước ta cũng đã có những chủ trương, chính sách nhằm khôi phục và phát triển tài nguyên rừng. Việt Nam xây dựng các chương trình này thông qua kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011- 2020 và chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 - 2020, kết hợp với Chương trình hành động quốc gia về REDD+ đến năm 2030 (NRAP). Kết qua cho thấy, Việt Nam là nước duy nhất trong khu vực Mê Kông có độ che phủ rừng tăng liên tục trong ba thập kỷ qua: từ 9,4 triệu ha năm 1990 lên 13.92 triệu ha năm 2021, chiếm 42,02% lãnh thé (Theo Điều 1 Quyết định 2860/QĐ-BNN- TCLN 2022, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2021). Nhưng bên cạnh đó các vấn nạn chặt phá vẫn còn diễn ra nhiều dẫn đến việc suy thoái mất đi các mảng rừng làm giảm sút đi khả năng bảo vệ và phát triển của rừng.
Các lợi ích mà rừng mang lại cho con người. Xuất phát từ những tình hình chung đó, việc cần là nhất bây giờ là khôi phục được hiện trạng rừng tự nhiên, dé đáp ứng được các nhu cầu về gỗ xây dựng, đồ mộc, gỗ giấy sợi, bảo vệ môi trường sống của con người, thực vật và đa dạng sinh học. Đề có được những kế hoạch, chiến lược phát triển rừng cũng như phục vụ cho công tác quan lý bảo vệ thì việc nam rõ một số đặc điểm lâm học cơ bản của rừng là vấn đề quan trọng và cần thiết, từ đó làm cơ sở đề xuất những biện pháp lâm sinh phù hợp dé rừng ngày càng sinh trưởng và phát triển tốt hơn. Từ các van đề đã nêu trên, trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp và mong muốn đóng góp một phần thông tin cung cấp cho quản lý rừng ở khu vực nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn của TS.
Phan Minh Xuân, tác giả thực hiện đề tài: Đặc điểm lâm học trạng thái rừng trung bình ở khu vực rừng phòng hộ hồ Hội Son, tỉnh Bình Định.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Xác định những đặc điểm lâm học đối với trạng thái rừng trung bình làm cơ sở cho quản lý bảo vệ rừng ở khu vực rừng phòng hộ hồ Hội Sơn, tỉnh Bình Định.2 Mục tiêu cụ thể Xác định được thành phan loài, kết cấu loài, cau trúc rừng và tình trạng tái sinh loài cây gỗ đối với trạng thái rừng trung bình. Xác định tính đa dạng loài cây gỗ đối với trạng thái rừng trung bình.3 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những diện tích rừng tự nhiên thuộc trạng thái rừng trung bình phân bố ở khu vực rừng phòng hộ hồ Hội Sơn, tỉnh Bình Định. Đối tượng đo đếm và thu thập dir liệu là các loài cây gỗ. Dé tài không nghiên cứu những dạng sống khác.
Chương 2 TONG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Những nghiên cứu về rừng tự nhiên Các nhà khoa học lâm nghiệp trong và ngoài nước đã có được những nghiên cứu căn bản nhằm tìm thấy thêm nhiều yếu tố góp phần đánh giá đặc điểm kết cấu của hệ sinh thái rừng cũng như đặc điểm phục hồi của rừng tạo cơ sở cho việc nghiên cứu sau này. Trong đề tài này tập trung nghiên cứu các vấn đề như: 2.1 Tổ thành rừng Ở nước ngoài, trong những nghiên cứu về rừng nhiệt đới thì vấn đề cấu trúc, cụ thé là các tang cũng được quan tâm nhiều hơn. Sở di như vậy là bởi những đặc trưng này bên cạnh việc thể hiện cấu trúc tự nhiên của lâm phần để căn cứ các biện pháp bảo tồn thì cũng là cơ sở cho nhiều cách tính toán và đánh giá tài nguyên rừng. Cấu trúc tổ thành khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau đáng ké trong những đặc điểm cấu trúc khác của rừng.
Vì vậy, nghiên cứu cấu trúc tổ thành nhất là cấu trúc t6 thành trong rừng nhiệt đới được coi như nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng của nghiên cứu cấu trúc rừng. (1952) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thai. Theo tác giả, một đặc điểm nỗi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và tác giả đã phân biệt tô thành thực vật của rừng mưa thành hai loại, đó là rừng mưa hỗn hợp có tô thành loài cây phức tạp và rừng mua đơn ưu chỉ bao gồm một vai loài cây. Rừng mưa thường có nhiều tang (thường có 3 tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ).
Trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn có nhiều loài cây le đủ hình dang và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cảnh cây. “Rừng mưa thực sự là một quan lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cau tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây” (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1999). Ở Việt Nam, cấu trúc tổ thành là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc sinh thái và hình thái khác của rừng. Tổ thành rừng là chỉ tiêu quan trọng dùng dé đánh giá mức độ đa dạng sinh học, tính ồn định, tính bền vững của hệ sinh thái rừng.
Cấu trúc tổ thành đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam đề cập trong công trình nghiên cứu của mình. Thái Văn Trừng (1978) khi nghiên cứu kiểu rừng thường kín xanh mưa 4m nhiệt đới nước ta đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng vượt tán, tần ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết. Nguyễn Văn Trương (1983) khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới. Đồng Sĩ Hiền (1974), sau khi nghiên cứu tác giả đã rút ra kết luận cấu trúc rừng tự nhiên hỗn loài nước ta có dang phân bố giảm theo đường kính, về chiều cao có sự phân bó theo nhiều đỉnh, các chỉ tiêu hình dang fo, và fi3 của các loài trong rừng tự nhiên hỗn loài có dạng phân bố tiệm cận với phân bố chuẩn, các quy luật này khác han so với rừng thuần loài đều tuổi.2 Cấu trúc rừng Cau trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phan cấu tạo nên quần thé thực vật rừng theo không gian và thời gian.
Cau trúc rừng biểu hiện mối quan hệ sinh thái giữa thực vật rừng với nhau và với các nhân tổ môi trường xung quanh gồm: Cấu trúc sinh thái tạo thành loài cây, dạng sống, tầng phiến, cấu trúc hình thái tầng tán rừng, cấu trúc đứng, cấu trúc theo mặt phẳng nằm ngang (mật độ và dạng phân bố cây trong quan xã) và cau trúc theo thời gian (theo tuổi). Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về câu trúc được các nhà lâm nghiệp trên thế giới và Việt Nam khái quát lại. Phương pháp vẽ biéu đồ mặt cắt đứng của rừng do P. Richards (1952) đề xướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guam đến nay vẫn là phương pháp hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng thứ của rừng.
Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo chiều thắng đứng của các loài cây gỗ trong diện tích có hạn. Cusen (1953) đã khắc phục bằng cách vẽ một số đải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều. David và Richard (1933 — 1934) đã sử dụng ảnh vẽ trắc đô đứng và trắc đô ngang của quân xã thực vật đê mô phỏng câu trúc rừng mưa nhiệt đới. Richard cho rằng rừng mưa nhiệt đới có khả năng tự phục hồi lại liên tục, tái sinh rừng theo lỗ trống do sự suy vong của các cây già côi là phô biến.
Cho đến nay phương pháp này vẫn là phương pháp hiệu quả, sử dụng rộng rãi cho đến nay.