Luận án tiến sĩ: Đặc điểm hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội

Luận án tiến sĩ phân tích đặc điểm hành động hỏi và hồi đáp trong tiếng Việt, xem xét từ góc độ phân tầng xã hội, cung cấp góc nhìn sâu sắc về giao tiếp.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

173
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. Lí do lựa chọn đề tài

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3. Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

4. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

5. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

6. Bố cục của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Tổng quan nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt

1.2. Hành động hỏi và hồi đáp hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết hành động ngôn ngữ

1.3. Hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết phân tầng xã hội

1.4. Cơ sở lí luận của luận án

1.5. Hành động ngôn ngữ, hành động hỏi

1.6. Lí thuyết hội thoại và tương tác hỏi - đáp

1.7. Phương ngữ xã hội và vấn đề phân tầng xã hội

1.8. Phân tầng xã hội và vấn đề sử dụng ngôn ngữ

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNH ĐỘNG HỎI XÉT TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TẦNG XÃ HỘI

2.1. Các chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ phân tầng xã hội

2.2. Các chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi

2.3. Chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ tuổi

2.4. Chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ giới

2.5. Chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ địa vị

2.6. Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội

2.7. Các biểu thức hỏi thường gặp trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội

2.8. Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ tuổi

2.9. Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ giới

2.10. Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ địa vị

2.11. Sự chi phối của phân tầng xã hội đối với hành động hỏi trong tiếng Việt

2.12. Sự chi phối của nhân tố tuổi đối với hành động hỏi trong tiếng Việt

2.13. Sự chi phối của nhân tố giới đối với hành động hỏi trong tiếng Việt

2.14. Sự chi phối của nhân tố địa vị đối với hành động hỏi trong tiếng Việt

2.15. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CỦA HỒI ĐÁP HỎI XÉT TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TẦNG XÃ HỘI

3.1. Các kiểu hồi đáp cho hành động hỏi trong tiếng Việt

3.2. Hồi đáp tích cực

3.3. Hồi đáp tiêu cực

3.4. Các kiểu hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ tuổi

3.5. Hồi đáp tích cực cho hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ tuổi

3.6. Hồi đáp tiêu cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ tuổi

3.7. Nhận xét về đặc điểm của hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ tuổi

3.8. Các kiểu hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ giới

3.9. Hồi đáp tích cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ giới

3.10. Hồi đáp tiêu cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ giới

3.11. Nhận xét về đặc điểm của hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ giới

3.12. Các kiểu hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ địa vị

3.13. Hồi đáp tích cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ địa vị

3.14. Hồi đáp tiêu cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ địa vị

3.15. Nhận xét về đặc điểm của hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ địa vị

3.16. Sự chi phối của PTXH đối với hồi đáp hỏi trong tiếng Việt

3.17. Sự chi phối của nhân tố tuổi đối với hồi đáp hỏi trong tiếng Việt

3.18. Sự chi phối của nhân tố giới đối với hồi đáp hỏi trong tiếng Việt

3.19. Sự chi phối của nhân tố địa vị đối với hồi đáp hỏi trong tiếng Việt

3.20. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT HĐH

Tóm tắt

I. Hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt

Hành động hỏihồi đáp hỏi là hai khía cạnh quan trọng trong giao tiếp tiếng Việt. Hành động hỏi được sử dụng để tìm kiếm thông tin, trong khi hồi đáp hỏi là phản ứng của người được hỏi. Cả hai đều chịu ảnh hưởng của các yếu tố phân tầng xã hội như tuổi, giới, và địa vị. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các đặc điểm của hành động hỏihồi đáp hỏi trong bối cảnh xã hội, nhằm làm rõ sự tương tác giữa ngôn ngữ và văn hóa.

1.1. Hành động hỏi từ góc độ phân tầng xã hội

Hành động hỏi trong tiếng Việt được phân tích dựa trên các yếu tố phân tầng xã hội. Các chủ đề hỏi thường phản ánh vị thế xã hội của người hỏi. Ví dụ, người có địa vị cao thường hỏi về các vấn đề liên quan đến quyền lực, trong khi người trẻ tuổi thường hỏi về các chủ đề cá nhân. Các biểu thức hỏi cũng thay đổi tùy thuộc vào tuổi tác, giới tính, và địa vị, thể hiện sự đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ.

1.2. Hồi đáp hỏi từ góc độ phân tầng xã hội

Hồi đáp hỏi cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phân tầng xã hội. Người có địa vị cao thường đưa ra các câu trả lời mang tính quyết đoán, trong khi người có địa vị thấp hơn thường sử dụng các câu trả lời gián tiếp hoặc lịch sự. Sự khác biệt này phản ánh sự tôn trọng và quyền lực trong giao tiếp, đồng thời cho thấy sự phức tạp của tương tác xã hội trong tiếng Việt.

II. Phân tích ngôn ngữ học xã hội

Nghiên cứu này áp dụng phân tích ngôn ngữ học xã hội để khám phá cách hành động hỏihồi đáp hỏi được sử dụng trong các tầng lớp xã hội khác nhau. Các yếu tố như tuổi, giới, và địa vị được xem xét để hiểu rõ hơn về sự biến đổi ngôn ngữ trong giao tiếp. Kết quả cho thấy, văn hóa giao tiếp tiếng Việt có sự phân hóa rõ rệt dựa trên các yếu tố xã hội.

2.1. Ảnh hưởng của tuổi tác

Tuổi tác là một yếu tố quan trọng trong hành động hỏihồi đáp hỏi. Người trẻ thường sử dụng ngôn ngữ trực tiếp và đơn giản, trong khi người lớn tuổi có xu hướng sử dụng ngôn ngữ phức tạp và mang tính lịch sự hơn. Sự khác biệt này phản ánh sự thay đổi trong cách tiếp cận thông tin và tương tác xã hội giữa các thế hệ.

2.2. Ảnh hưởng của giới tính

Giới tính cũng đóng vai trò quan trọng trong hành động hỏihồi đáp hỏi. Phụ nữ thường sử dụng ngôn ngữ mềm mỏng và mang tính xây dựng, trong khi nam giới có xu hướng sử dụng ngôn ngữ trực tiếp và quyết đoán. Sự khác biệt này phản ánh các chuẩn mực văn hóa và kỳ vọng xã hội đối với từng giới.

III. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về hành động hỏihồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội có nhiều ứng dụng thực tiễn. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để cải thiện kỹ năng giao tiếp, đặc biệt trong các tình huống xã hội phức tạp. Ngoài ra, nghiên cứu cũng góp phần vào việc giảng dạy tiếng Việt, giúp người học hiểu rõ hơn về sự đa dạng và phong phú của ngôn ngữ trong các bối cảnh xã hội khác nhau.

3.1. Ứng dụng trong giáo dục

Kết quả nghiên cứu có thể được tích hợp vào chương trình giảng dạy tiếng Việt, giúp học sinh và sinh viên hiểu rõ hơn về cách sử dụng ngôn ngữ phù hợp với các tình huống xã hội. Điều này đặc biệt hữu ích trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp và tương tác xã hội.

3.2. Ứng dụng trong giao tiếp xã hội

Nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách hành động hỏihồi đáp hỏi được sử dụng trong các tầng lớp xã hội khác nhau. Điều này giúp người giao tiếp điều chỉnh ngôn ngữ phù hợp với đối tượng, từ đó tăng hiệu quả giao tiếp và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng việt từ góc độ phân tầng xã hội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ các công trình sách, tạp chí, chuyên đề, chuyên khảo, luận án, luận văn …của các tác giả theo hai góc độ: - Hành động hỏi và hồi đáp hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết hành động ngôn ngữ. - Hành động hỏi và hồi đáp hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết phân tầng xã hội. Hành động hỏi và hồi đáp hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết hành động ngôn ngữ Hành động ngôn ngữ được coi là xương sống của ngữ dụng học.

Hành động hỏi là một trong những hành động ngôn ngữ có tần suất sử dụng cao. Lí thuyết về hành động ngôn ngữ đề cập đến nhiều vấn đề trong đó có hành động hỏi. Một số sách về ngữ dụng, một số bài viết, chuyên khảo, chuyên đề, luận án, luận văn… đã đề cập đến đối tượng nghiên cứu này. Hành động hỏi và hồi đáp hỏi thường được đề cập trong các sách về ngữ dụng.

Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu của các tác giả như: Đỗ Hữu Châu - Đại cương ngôn ngữ học, tập 2; Nguyễn Thiện Giáp - Dụng học Việt ngữ, tập 1; Nguyễn Đức Dân - Ngữ dụng học, tập 1. Trong Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 [12], khi trình bày về lí thuyết hành động ngôn ngữ, hành động hỏi được Đỗ Hữu Châu nói đến khi trình bày nội dung Hai thành phần ngữ nghĩa của phát ngôn. Theo ông, ngữ nghĩa của tất cả các phát ngôn là sự tổng hợp của hai thành phần nghĩa là hiệu lực ở lời và nội dung mệnh đề. Với hầu hết phát ngôn hỏi thành phần nội dung mệnh đề thường chứa một hàm mệnh đề chứ không phải chỉ chứa một mệnh đề.

Trường hợp phát ngôn hỏi chỉ chứa một mệnh đề là các phát ngôn hỏi mà người đáp chỉ có thể đưa ra một lựa chọn trả lời là có/không. Bên cạnh đó, trong nội dung Điều kiện sử dụng hành vi ở lời, tác giả cũng đã trình bày bốn điều kiện sử dụng hành động ở lời của hành động hỏi theo 4 tiêu chí phân loại của Searle gồm: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản. Đây chính là cơ sở để nhận diện hành động hỏi có được thực hiện 7 đúng với đích ở lời hỏi hay không. Trong Dụng học Việt ngữ, tập 1 [24], ở chương 3 - Lí thuyết hành động ngôn từ, phần hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp, Nguyễn Thiện Giáp đã liệt kê các cấu trúc hỏi và phân tích mối quan hệ giữa một cấu trúc và một chức năng.

Khi nào có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thì chúng ta có một hành động ngôn từ trực tiếp. Khi nào có quan hệ gián tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thì chúng ta có một hành động ngôn từ gián tiếp. Như vậy, cũng giống như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp cũng đã xác định cách để nhận diện hành động ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi nói riêng khi nào được dùng theo lối trực tiếp, khi nào được dùng theo lối gián tiếp. Trong Ngữ dụng học, tập 1 [17], Nguyễn Đức Dân đã chỉ ra những dấu hiệu ngữ vi của hành động ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi nói riêng.

Đó là mục đích nói không phải lúc nào cũng được thực hiện bằng động từ ngữ vi của chính nó. Bên cạnh những động từ ngữ vi thực hiện hành động tại lời (hành động ở lời theo cách gọi của Đỗ Hữu Châu) thì còn có những dấu hiệu ngữ vi khác để nhận diện hành động tại lời: “Chẳng hạn, chúng ta có một loạt cấu trúc khác nhau để thể hiện hành vi tại lời hỏi. không?”, “P à?”, “P-ấy à?”, “P-phải không?”. Và những câu hỏi về thời gian, không gian, nguyên nhân, cách thức, số lượng…dùng tới các từ phiếm chỉ đặc thù: bao giờ, khi nào, ở đâu, vì sao, bao nhiêu, cách nào…” [17; tr.

Cũng giống như Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân đã chỉ ra một số đặc điểm của hành động ngôn ngữ gián tiếp, đó là, hành động hỏi có thể được sử dụng để thực hiện một hành động ngôn ngữ gián tiếp khác như là đề nghị, thông báo…đồng thời hành động đề nghi, thông báo cũng có thể được sử dụng để thực hiện gián tiếp hành động hỏi. Như vậy ở một số sách về ngữ dụng học đã bàn đến hành động hỏi trong lí thuyết hành động ngôn từ trên các bình diện như: hiệu lực ở lời của hành động hỏi, các điều kiện thực hiện hiệu lực ở lời của hành động hỏi, sự phân biệt hành động hỏi trực tiếp – gián tiếp. Các công trình trên đã cung cấp một cái nhìn khái quát, đa diện cho đối tượng được nghiên cứu của luận án. Nếu như những công trình trên đã tiếp cận hành động hỏi và hồi đáp hỏi một cách tổng quát với các vấn đề lí thuyết cơ bản thì những chuyên khảo, luận án, luận văn dưới đây đã đi sâu nghiên cứu hành động hỏi; mối quan hệ giữa hỏi và trả lời tức 8 là đã quan tâm đi sâu đến những bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng…mà cụ thể là sự tương tác hỏi – đáp trong những ngữ cảnh giao tiếp cụ thể; trong mối quan hệ giao văn hóa của các ngôn ngữ khác nhau.

Có thể điểm qua kết quả nghiên cứu ở những luận án của một số tác giả tiêu biểu như: Luận án Câu nghi vấn tiếng Việt, một số kiểu câu nghi vấn thường không dùng để hỏi của Nguyễn Thị Thìn (1994) [81]; luận án Một số tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ của Nguyễn Thị Lương (1995) [57]; luận án Ngữ nghĩa - ngữ dụng câu hỏi chính danh của Lê Đông (1996) [22]; luận án Ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi tu từ tiếng Việt của Lê Thị Thu Hoài (2013) [85]; chuyên khảo Câu trả lời gián tiếp có nghĩa hàm ẩn cho câu hỏi chính danh của Lê Anh Xuân (1999) [94]; chuyên khảo Hành động ngôn từ gián tiếp và sự tri nhận của Đặng Thị Hảo Tâm (2008) [73]… Trong những công trình này, các tác giả đã chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi chính danh, câu hỏi tu từ; phân loại câu hỏi chính danh và các thông tin bổ trợ thường gặp; khẳng định phản ứng trả lời là đặc trưng của hành động hỏi; một số kiểu cấu trúc của câu nghi vấn không dùng để hỏi; nghĩa của câu hỏi thông qua các tiểu từ tình thái nghi vấn cuối câu; một số hành động ngôn từ gián tiếp được thực hiện bằng hành động hỏi; các đặc điểm của câu trả lời hàm ẩn cho câu hỏi chính danh. Những kết quả nghiên cứu này đã góp phần cung cấp cái nhìn rõ ràng, đầy đủ hơn về hành động hỏi trong tiếng Việt. Đi sâu nghiên cứu hành động hỏi từ những phạm vi giao tiếp cụ thể, có thể kể đến các công trình sau: Luận án Phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán bằng tiếng Việt của Mai Thị Kiều Phượng (2007) [65]; Hành động ngôn ngữ qua câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên và thơ Tố Hữu của Phạm Thị Như Hoa (2015) [38]; Cặp thoại hỏi – trả lời, cầu khiến – hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ của Đàm Thị Ngọc Hà (2017) [30]; Câu hỏi trong hội thoại dạy học của Nguyễn Thị Hồng Ngân (2010) [64] …Việc xem xét hành động hỏi từ lí thuyết dụng học trong từng cảnh huống sử dụng khác nhau như trong giao tiếp mua bán, trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền h́ ình, giao tiếp sư phạm hoặc việc sử dụng hành động hỏi trong các tác phẩm văn học nghệ thuật của các tác giả cụ thể đã làm phong phú thêm những đặc trưng của hành động hỏi cũng như vai trò của hành động hỏi trong thực tiễn giao tiếp. Từ góc độ so sánh, đối chiếu, hành động hỏi và hồi đáp hỏi cũng được nhiều công trình đi sâu nghiên cứu.

Có thể kể đến một số luận án như: Hành động hỏi (trên 9 tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt) của Hoàng Thị Yến (2014) [91]; Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp của Trần Phúc Trung (2011) [89]; Thành phần rào đón ở hành vi hỏi và hồi đáp trong tiếng Anh (đối chiếu với tiếng Việt) của Trần Thị Phương Thu (2015) [86]. Những luận án này đã phân tích và chỉ ra những đặc điểm về cấu tạo, chức năng, phương thức sử dụng từ của hành động hỏi và thành phần kèm theo (hành vi rào đón). Các luận án cũng đã chỉ ra được một số nét tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng hành vi hỏi nói chung và thành phần rào đón nói riêng chẳng hạn như những tương đồng và khác biệt về văn hóa trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các quốc gia khác nhau. Có thể thấy, tiếp nối những thành công của trường phái cấu trúc luận, những nghiên cứu của giai đoạn hậu cấu trúc luận trong đó có Ngữ dụng học, đã làm cho hành động hỏi không bị “đóng khung” trong những mô hình mà nó sống động hơn, đa diện hơn khi được đặt trong thế tương tác.

Hỏi – trả lời, đó là hai mặt của một sự thống nhất. Từ đây, hồi đáp hỏi mới được đi sâu nghiên cứu trong mối quan hệ với hỏi. Tuy nhiên, ngôn ngữ nói chung hay hành động hỏi và hồi đáp hỏi nói riêng sẽ đầy đủ hơn nếu đặt nó vào thực tế xã hội, nơi mà ta không chỉ thấy được mối quan hệ hai chiều là ngôn ngữ và xã hội mà còn thấy được sự tác động, sự ảnh hưởng, sự chi phối giữa chúng. Để làm rõ mối quan hệ và sự ảnh hưởng này, luận án đi sâu xem xét cặp hành động hỏi và hồi đáp hỏi trên bình diện phân tầng xã hội.

Hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết phân tầng xã hội Ngôn ngữ học xã hội ra đời xuất phát từ thuộc tính xã hội của ngôn ngữ để lí giải các hiện tượng cũng như diễn biến của ngôn ngữ, có thể xuất phát từ biến thể ngôn ngữ và diễn biến của biến thể ngôn ngữ để lí giải các hiện tượng xã hội cũng như diễn biến của xã hội có liên quan. Trên thế giới, đây là một hướng nghiên cứu rất mạnh và đạt được nhiều thành tựu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đặc điểm hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội là một nghiên cứu chuyên sâu về cách thức sử dụng câu hỏi và phản hồi trong giao tiếp tiếng Việt, xem xét dưới lăng kính phân tầng xã hội. Tài liệu này phân tích chi tiết các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến hành động hỏi và trả lời, từ đó làm nổi bật sự đa dạng và phức tạp của giao tiếp trong tiếng Việt. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách người Việt sử dụng câu hỏi để thể hiện sự tôn trọng, quyền lực hoặc mối quan hệ xã hội, đồng thời nhận thức được sự khác biệt trong cách phản hồi tùy thuộc vào bối cảnh và địa vị xã hội.

Nếu bạn quan tâm đến chủ đề này, bạn có thể khám phá thêm qua Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ Việt Nam: Câu hỏi trong văn xuôi của Nguyên Hồng, nghiên cứu về cách câu hỏi được sử dụng trong văn học. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ: Lập luận trên diễn đàn quốc hội qua những phiên chất vấn cung cấp góc nhìn về cách câu hỏi được sử dụng trong bối cảnh chính trị. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ: Từ láy trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng giúp bạn hiểu thêm về sự phong phú của ngôn ngữ Việt trong văn học. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về chủ đề này.