Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ các công trình sách, tạp chí, chuyên đề, chuyên khảo, luận án, luận văn …của các tác giả theo hai góc độ: - Hành động hỏi và hồi đáp hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết hành động ngôn ngữ. - Hành động hỏi và hồi đáp hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết phân tầng xã hội. Hành động hỏi và hồi đáp hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết hành động ngôn ngữ Hành động ngôn ngữ được coi là xương sống của ngữ dụng học.
Hành động hỏi là một trong những hành động ngôn ngữ có tần suất sử dụng cao. Lí thuyết về hành động ngôn ngữ đề cập đến nhiều vấn đề trong đó có hành động hỏi. Một số sách về ngữ dụng, một số bài viết, chuyên khảo, chuyên đề, luận án, luận văn… đã đề cập đến đối tượng nghiên cứu này. Hành động hỏi và hồi đáp hỏi thường được đề cập trong các sách về ngữ dụng.
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu của các tác giả như: Đỗ Hữu Châu - Đại cương ngôn ngữ học, tập 2; Nguyễn Thiện Giáp - Dụng học Việt ngữ, tập 1; Nguyễn Đức Dân - Ngữ dụng học, tập 1. Trong Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 [12], khi trình bày về lí thuyết hành động ngôn ngữ, hành động hỏi được Đỗ Hữu Châu nói đến khi trình bày nội dung Hai thành phần ngữ nghĩa của phát ngôn. Theo ông, ngữ nghĩa của tất cả các phát ngôn là sự tổng hợp của hai thành phần nghĩa là hiệu lực ở lời và nội dung mệnh đề. Với hầu hết phát ngôn hỏi thành phần nội dung mệnh đề thường chứa một hàm mệnh đề chứ không phải chỉ chứa một mệnh đề.
Trường hợp phát ngôn hỏi chỉ chứa một mệnh đề là các phát ngôn hỏi mà người đáp chỉ có thể đưa ra một lựa chọn trả lời là có/không. Bên cạnh đó, trong nội dung Điều kiện sử dụng hành vi ở lời, tác giả cũng đã trình bày bốn điều kiện sử dụng hành động ở lời của hành động hỏi theo 4 tiêu chí phân loại của Searle gồm: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản. Đây chính là cơ sở để nhận diện hành động hỏi có được thực hiện 7 đúng với đích ở lời hỏi hay không. Trong Dụng học Việt ngữ, tập 1 [24], ở chương 3 - Lí thuyết hành động ngôn từ, phần hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp, Nguyễn Thiện Giáp đã liệt kê các cấu trúc hỏi và phân tích mối quan hệ giữa một cấu trúc và một chức năng.
Khi nào có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thì chúng ta có một hành động ngôn từ trực tiếp. Khi nào có quan hệ gián tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thì chúng ta có một hành động ngôn từ gián tiếp. Như vậy, cũng giống như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp cũng đã xác định cách để nhận diện hành động ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi nói riêng khi nào được dùng theo lối trực tiếp, khi nào được dùng theo lối gián tiếp. Trong Ngữ dụng học, tập 1 [17], Nguyễn Đức Dân đã chỉ ra những dấu hiệu ngữ vi của hành động ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi nói riêng.
Đó là mục đích nói không phải lúc nào cũng được thực hiện bằng động từ ngữ vi của chính nó. Bên cạnh những động từ ngữ vi thực hiện hành động tại lời (hành động ở lời theo cách gọi của Đỗ Hữu Châu) thì còn có những dấu hiệu ngữ vi khác để nhận diện hành động tại lời: “Chẳng hạn, chúng ta có một loạt cấu trúc khác nhau để thể hiện hành vi tại lời hỏi. không?”, “P à?”, “P-ấy à?”, “P-phải không?”. Và những câu hỏi về thời gian, không gian, nguyên nhân, cách thức, số lượng…dùng tới các từ phiếm chỉ đặc thù: bao giờ, khi nào, ở đâu, vì sao, bao nhiêu, cách nào…” [17; tr.
Cũng giống như Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân đã chỉ ra một số đặc điểm của hành động ngôn ngữ gián tiếp, đó là, hành động hỏi có thể được sử dụng để thực hiện một hành động ngôn ngữ gián tiếp khác như là đề nghị, thông báo…đồng thời hành động đề nghi, thông báo cũng có thể được sử dụng để thực hiện gián tiếp hành động hỏi. Như vậy ở một số sách về ngữ dụng học đã bàn đến hành động hỏi trong lí thuyết hành động ngôn từ trên các bình diện như: hiệu lực ở lời của hành động hỏi, các điều kiện thực hiện hiệu lực ở lời của hành động hỏi, sự phân biệt hành động hỏi trực tiếp – gián tiếp. Các công trình trên đã cung cấp một cái nhìn khái quát, đa diện cho đối tượng được nghiên cứu của luận án. Nếu như những công trình trên đã tiếp cận hành động hỏi và hồi đáp hỏi một cách tổng quát với các vấn đề lí thuyết cơ bản thì những chuyên khảo, luận án, luận văn dưới đây đã đi sâu nghiên cứu hành động hỏi; mối quan hệ giữa hỏi và trả lời tức 8 là đã quan tâm đi sâu đến những bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng…mà cụ thể là sự tương tác hỏi – đáp trong những ngữ cảnh giao tiếp cụ thể; trong mối quan hệ giao văn hóa của các ngôn ngữ khác nhau.
Có thể điểm qua kết quả nghiên cứu ở những luận án của một số tác giả tiêu biểu như: Luận án Câu nghi vấn tiếng Việt, một số kiểu câu nghi vấn thường không dùng để hỏi của Nguyễn Thị Thìn (1994) [81]; luận án Một số tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ của Nguyễn Thị Lương (1995) [57]; luận án Ngữ nghĩa - ngữ dụng câu hỏi chính danh của Lê Đông (1996) [22]; luận án Ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi tu từ tiếng Việt của Lê Thị Thu Hoài (2013) [85]; chuyên khảo Câu trả lời gián tiếp có nghĩa hàm ẩn cho câu hỏi chính danh của Lê Anh Xuân (1999) [94]; chuyên khảo Hành động ngôn từ gián tiếp và sự tri nhận của Đặng Thị Hảo Tâm (2008) [73]… Trong những công trình này, các tác giả đã chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi chính danh, câu hỏi tu từ; phân loại câu hỏi chính danh và các thông tin bổ trợ thường gặp; khẳng định phản ứng trả lời là đặc trưng của hành động hỏi; một số kiểu cấu trúc của câu nghi vấn không dùng để hỏi; nghĩa của câu hỏi thông qua các tiểu từ tình thái nghi vấn cuối câu; một số hành động ngôn từ gián tiếp được thực hiện bằng hành động hỏi; các đặc điểm của câu trả lời hàm ẩn cho câu hỏi chính danh. Những kết quả nghiên cứu này đã góp phần cung cấp cái nhìn rõ ràng, đầy đủ hơn về hành động hỏi trong tiếng Việt. Đi sâu nghiên cứu hành động hỏi từ những phạm vi giao tiếp cụ thể, có thể kể đến các công trình sau: Luận án Phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán bằng tiếng Việt của Mai Thị Kiều Phượng (2007) [65]; Hành động ngôn ngữ qua câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên và thơ Tố Hữu của Phạm Thị Như Hoa (2015) [38]; Cặp thoại hỏi – trả lời, cầu khiến – hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ của Đàm Thị Ngọc Hà (2017) [30]; Câu hỏi trong hội thoại dạy học của Nguyễn Thị Hồng Ngân (2010) [64] …Việc xem xét hành động hỏi từ lí thuyết dụng học trong từng cảnh huống sử dụng khác nhau như trong giao tiếp mua bán, trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền h́ ình, giao tiếp sư phạm hoặc việc sử dụng hành động hỏi trong các tác phẩm văn học nghệ thuật của các tác giả cụ thể đã làm phong phú thêm những đặc trưng của hành động hỏi cũng như vai trò của hành động hỏi trong thực tiễn giao tiếp. Từ góc độ so sánh, đối chiếu, hành động hỏi và hồi đáp hỏi cũng được nhiều công trình đi sâu nghiên cứu.
Có thể kể đến một số luận án như: Hành động hỏi (trên 9 tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt) của Hoàng Thị Yến (2014) [91]; Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp của Trần Phúc Trung (2011) [89]; Thành phần rào đón ở hành vi hỏi và hồi đáp trong tiếng Anh (đối chiếu với tiếng Việt) của Trần Thị Phương Thu (2015) [86]. Những luận án này đã phân tích và chỉ ra những đặc điểm về cấu tạo, chức năng, phương thức sử dụng từ của hành động hỏi và thành phần kèm theo (hành vi rào đón). Các luận án cũng đã chỉ ra được một số nét tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng hành vi hỏi nói chung và thành phần rào đón nói riêng chẳng hạn như những tương đồng và khác biệt về văn hóa trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các quốc gia khác nhau. Có thể thấy, tiếp nối những thành công của trường phái cấu trúc luận, những nghiên cứu của giai đoạn hậu cấu trúc luận trong đó có Ngữ dụng học, đã làm cho hành động hỏi không bị “đóng khung” trong những mô hình mà nó sống động hơn, đa diện hơn khi được đặt trong thế tương tác.
Hỏi – trả lời, đó là hai mặt của một sự thống nhất. Từ đây, hồi đáp hỏi mới được đi sâu nghiên cứu trong mối quan hệ với hỏi. Tuy nhiên, ngôn ngữ nói chung hay hành động hỏi và hồi đáp hỏi nói riêng sẽ đầy đủ hơn nếu đặt nó vào thực tế xã hội, nơi mà ta không chỉ thấy được mối quan hệ hai chiều là ngôn ngữ và xã hội mà còn thấy được sự tác động, sự ảnh hưởng, sự chi phối giữa chúng. Để làm rõ mối quan hệ và sự ảnh hưởng này, luận án đi sâu xem xét cặp hành động hỏi và hồi đáp hỏi trên bình diện phân tầng xã hội.
Hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết phân tầng xã hội Ngôn ngữ học xã hội ra đời xuất phát từ thuộc tính xã hội của ngôn ngữ để lí giải các hiện tượng cũng như diễn biến của ngôn ngữ, có thể xuất phát từ biến thể ngôn ngữ và diễn biến của biến thể ngôn ngữ để lí giải các hiện tượng xã hội cũng như diễn biến của xã hội có liên quan. Trên thế giới, đây là một hướng nghiên cứu rất mạnh và đạt được nhiều thành tựu.