Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong hoạt động giao tiếp của con người, hành động ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện nhiều mục đích phát ngôn khác nhau như trình bày, yêu cầu, hỏi, khen, chê, trách, tuyên bố, buộc tội. Trong số đó, hành động hỏi là hành động có tần suất xuất hiện cao, gắn liền với các đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của từng cộng đồng. Về bản chất, hỏi và đáp là hai mặt của một quá trình thống nhất, là tiền đề tồn tại của nhau và cùng hướng đến việc làm sáng tỏ một thông tin hoặc vấn đề chưa được làm rõ. Tương tác hỏi - đáp phản ánh mối quan hệ tương hỗ giữa cái chưa biết và cái đã biết, qua đó nâng cao nhận thức về đối tượng giao tiếp.

Quá trình giao tiếp chịu sự tác động sâu sắc của các biến số xã hội như tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập, địa vị và học vấn. Ngôn ngữ phản chiếu trung thực cơ cấu xã hội, sự biến đổi xã hội cũng như bản sắc của cá nhân và cộng đồng. Khi xã hội có sự phân chia thành các tầng bậc, cách thức sử dụng ngôn ngữ và phương thức giao tiếp giữa các nhóm người thuộc các giai tầng khác nhau cũng mang những đặc trưng riêng biệt.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây đã tiếp cận câu hỏi và hành động hỏi dưới nhiều bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng học hoặc ngữ cảnh chuyên biệt. Tuy nhiên, việc khảo sát hành động hỏi và hồi đáp hỏi gắn với đặc điểm phân tầng xã hội của các vai giao tiếp một cách chuyên sâu, hệ thống vẫn là một khoảng trống nghiên cứu. Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Đoan Trang đã lựa chọn đề tài "Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội" nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là chỉ ra các đặc điểm về nội dung và hình thức của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt dưới sự chi phối của ba nhân tố: tuổi, giới và địa vị; từ đó làm sáng tỏ sự chi phối của các nhân tố xã hội đối với hoạt động giao tiếp và sự lựa chọn ngôn ngữ.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
  2. Xây dựng cơ sở lí thuyết cho luận án.
  3. Khảo sát, phân loại hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ góc độ phân tầng xã hội.
  4. Tìm hiểu sự chi phối của các nhân tố xã hội đối với hành động hỏi và hồi đáp hỏi.

Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong giao tiếp bằng tiếng Việt dưới sự chi phối của các nhân tố xã hội gồm giới, tuổi và địa vị. Cụ thể, luận án tập trung khảo sát hành động hỏi với các chủ đề hỏi và biểu thức ngôn ngữ thực hiện hành động hỏi; khảo sát hồi đáp hỏi với các kiểu hồi đáp tích cực và hồi đáp tiêu cực.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về hành động hỏi: Luận án chỉ khảo sát hành động hỏi trực tiếp (do qua khảo sát thực tế không thu thập được các trường hợp hành động ngôn ngữ hỏi gián tiếp).
    • Về lý thuyết phân tầng xã hội: Luận án giới hạn nghiên cứu ở ba nhân tố: tuổi, giới và địa vị. Đây là ba nhân tố thuộc nhóm có tác động mạnh nhất đến giao tiếp của người Việt.
  • Nguồn tư liệu nghiên cứu: Luận án khai thác và kết hợp ba nguồn dữ liệu:
    1. Ngữ liệu giao tiếp thực tế: Các cuộc thoại ngẫu nhiên được ghi âm tại một số công ty, trường học với các đối tượng có trình độ, độ tuổi và giới tính khác nhau.
    2. Ngữ liệu truyền hình thực tế: Dữ liệu từ chương trình gameshow "Thương vụ bạc tỉ" (Shark Tank Việt Nam), trích xuất các tương tác trực tiếp, đối thoại, chất vấn mặt đối mặt giữa các nhân vật có thông tin rõ ràng về tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và địa vị.
    3. Ngữ liệu văn học: Các cặp thoại hỏi - đáp được trích từ các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết tiếng Việt, trong đó nhân vật được lập hồ sơ thông tin cá nhân cụ thể theo ba tiêu chí tuổi, giới và địa vị.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án tiến hành tổng thuật lịch sử nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp hỏi theo hai góc độ tiếp cận chính:

1. Hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ góc độ lý thuyết hành động ngôn ngữ

  • Các giáo trình và công trình ngữ dụng học tổng quát:
    • Đỗ Hữu Châu trong Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 (2001) đã phân tích hai thành phần ngữ nghĩa của phát ngôn (hiệu lực ở lời và nội dung mệnh đề), chỉ ra nội dung mệnh đề của câu hỏi thường chứa một hàm mệnh đề; đồng thời trình bày bốn điều kiện sử dụng hành vi ở lời của Searle (điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản) để nhận diện hành động hỏi.
    • Nguyễn Thiện Giáp trong Dụng học Việt ngữ, tập 1 (2000) đã phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng, xác lập ranh giới giữa hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp.
    • Nguyễn Đức Dân trong Ngữ dụng học, tập 1 (1998) đã chỉ ra các dấu hiệu ngữ vi của hành động hỏi qua các cấu trúc chuyên biệt (như "... không?", "P à?", "P-ấy à?", "P-phải không?") và các từ phiếm chỉ (bao giờ, khi nào, ở đâu, vì sao, bao nhiêu, cách nào).
  • Các luận án, chuyên khảo nghiên cứu sâu về câu hỏi trong tiếng Việt:
    • Nguyễn Thị Thìn (1994), Câu nghi vấn tiếng Việt, một số kiểu câu nghi vấn thường không dùng để hỏi.
    • Nguyễn Thị Lương (1995), Một số tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ.
    • Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa - ngữ dụng câu hỏi chính danh.
    • Lê Thị Thu Hoài (2013), Ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi tu từ tiếng Việt.
    • Lê Anh Xuân (1999), Câu trả lời gián tiếp có nghĩa hàm ẩn cho câu hỏi chính danh.
    • Đặng Thị Hảo Tâm (2008), Hành động ngôn từ gián tiếp và sự tri nhận.
  • Các nghiên cứu hành động hỏi trong các ngữ cảnh giao tiếp chuyên biệt:
    • Mai Thị Kiều Phượng (2007), Phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán bằng tiếng Việt.
    • Nguyễn Thị Hồng Ngân (2010), Câu hỏi trong hội thoại dạy học.
    • Đàm Thị Ngọc Hà (2017), Cặp thoại hỏi – trả lời, cầu khiến – hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ.
    • Phạm Thị Như Hoa (2015), Hành động ngôn ngữ qua câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên và thơ Tố Hữu.
  • Các công trình nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ:
    • Trần Phúc Trung (2011), Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp.
    • Hoàng Thị Yến (2014), Hành động hỏi (trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt).
    • Trần Thị Phương Thu (2015), Thành phần rào đón ở hành vi hỏi và hồi đáp trong tiếng Anh (đối chiếu với tiếng Việt).

2. Hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ góc độ lý thuyết phân tầng xã hội

  • Các nghiên cứu quốc tế:
    • W.P. Robinson và Susan J. Rackstraw (1967, 1972) nghiên cứu sự khác biệt giữa tầng lớp trung lưu và tầng lớp lao động tại Anh trong cách trả lời của các bà mẹ và cách đặt câu hỏi của trẻ em, dựa trên khung lý thuyết mã hạn chế và mã chi tiết của Basil Bernstein (1971).
    • Linnea Rask (2014) khảo sát sự khác biệt giới trong việc trả lời phỏng vấn truyền hình trên chương trình The Andrew Marr Show (BBC One), phân tích độ dài câu trả lời, sự quan tâm đến phép lịch sự và các phương tiện biểu thị tính không chắc chắn.
  • Các nghiên cứu tại Việt Nam:
    • Nguyễn Văn Khang (chủ biên, 1996) trong Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt đã khẳng định ảnh hưởng của giới tính và tuổi tác trong nghi thức lời nói gia đình.
    • Phạm Thị Hà (2013) trong luận án Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và cách tiếp nhận lời khen.
    • Lương Thị Hiền (2014) trong luận án Các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lực trong ngôn ngữ hành chính tiếng Việt, khảo sát hành động hỏi và yêu cầu của Hội đồng xét xử tại phiên tòa.
    • Hoàng Việt Anh (2015) trong luận văn Yếu tố giới trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, chỉ ra xu hướng nam giới hỏi trực tiếp nhiều hơn và nữ giới sử dụng nhiều câu hỏi gián tiếp hơn.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam chủ yếu xem xét câu hỏi ở góc độ cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa - ngữ dụng đơn lẻ hoặc mới chỉ xét yếu tố xã hội ở một khía cạnh cục bộ (như giới tính trong tác phẩm văn học hoặc quyền lực trong ngôn ngữ tư pháp). Luận án của Bùi Đoan Trang đặt hành động hỏi và hồi đáp hỏi vào chỉnh thể của cấu trúc tương tác hội thoại, khảo sát đồng thời cả hai vế (hỏi và đáp) dưới sự chi phối có tính hệ thống của ba biến số phân tầng xã hội cơ bản (tuổi, giới, địa vị), từ đó xác lập một mô tả toàn diện về mặt ngôn ngữ học xã hội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tích hợp ba trụ cột lý thuyết chính:

  1. Lý thuyết hành động ngôn ngữ và hành động hỏi:

    • Sử dụng quan niệm của J.L. Austin, J.R. Searle và Đỗ Hữu Châu về ba loại hành động: hành động tạo lời (locutionary act), hành động ở lời (illocutionary act) và hành động mượn lời (perlocutionary act).
    • Vận dụng bốn điều kiện sử dụng hành động ở lời của Searle đối với hành động hỏi:
      • Điều kiện nội dung mệnh đề (NDMĐ): Mọi mệnh đề hay hàm mệnh đề.
      • Điều kiện chuẩn bị (CB): Người nói không biết lời giải đáp; cả người nói và người nghe đều không chắc chắn người nghe sẽ tự cung cấp thông tin nếu không được hỏi.
      • Điều kiện chân thành (CT): Người nói thực sự mong muốn có được thông tin đó.
      • Điều kiện căn bản: Hành động phát ra nhằm mục đích nhận được thông tin từ người nghe.
    • Nhận diện các phương tiện biểu thị hành động hỏi (IFIDs): Các kiểu kết cấu hỏi (câu hỏi tổng quát, câu hỏi chuyên biệt/bộ phận, câu hỏi lựa chọn); các từ ngữ chuyên dùng (đại từ nghi vấn: ai, gì, nào, sao, bao nhiêu, mấy, đâu...; quan hệ từ lựa chọn hay; phụ từ nghi vấn: có... không, đã... chưa; tiểu từ tình thái cuối câu: à, ư, nhỉ, nhé, hả, ạ...); ngữ điệu hỏi; và động từ ngữ vi (hỏi).
  2. Lý thuyết hội thoại và tương tác hỏi - đáp:

    • Khảo sát các đơn vị hội thoại: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại (adjacency pairs), tham thoại (turn-at-talk) và lượt lời.
    • Cặp thoại hỏi - đáp được xem xét là mối quan hệ tương thích trực tiếp giữa tham thoại dẫn nhập (hỏi) và tham thoại hồi đáp (đáp).
    • Phân loại hồi đáp theo Đỗ Hữu Châu:
      • Hồi đáp tích cực (khẳng định): Tham thoại trực tiếp hoặc gián tiếp, đáp ứng và thỏa mãn đích ở lời của tham thoại hỏi dẫn nhập (tương đương khái niệm câu đáp được ưu tiên của Nguyễn Thiện Giáp / lượt lời ưa dùng của Nguyễn Đức Dân).
      • Hồi đáp tiêu cực (phủ định): Tham thoại đi ngược lại đích của tham thoại hỏi, không đáp ứng nhu cầu thông tin của người hỏi (tương đương câu đáp được đánh dấu / lượt lời ít dùng).
  3. Phương ngữ xã hội và phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ:

    • Khái niệm phương ngữ xã hội: Biến thể ngôn ngữ của một nhóm người có sự tương đồng về các đặc trưng xã hội (tuổi, giới, địa vị, nghề nghiệp, học vấn...).
    • Khung phân tầng xã hội: Vận dụng lý thuyết của Max Weber, Parsons và Nguyễn Đình Tấn về ba chiều phân tầng (tài sản/kinh tế, quyền lực/chính trị, uy tín/địa vị xã hội); kết hợp cách tiếp cận nhân chủng học về đặc điểm quy gán (tuổi, giới) và đặc điểm có được (địa vị, học vấn, nghề nghiệp).
    • Phân nhóm 8 nhân tố xã hội theo Nguyễn Văn Khang:
      • Nhóm 1 (Tác động mạnh nhất): Tuổi, địa vị, giới.
      • Nhóm 2 (Tác động vừa phải): Nghề nghiệp, vùng miền, học vấn.
      • Nhóm 3 (Tác động ít): Thu nhập, tôn giáo.
    • Luận án tập trung khảo sát Nhóm 1 với các định nghĩa thao tác:
      • Tuổi: Phân chia thành các nhóm: nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, trung niên, người cao tuổi.
      • Giới: Tiếp cận theo Luật Bình đẳng giới 2006 (giới là vai trò, vị trí và hành vi xã hội của nam và nữ).
      • Địa vị: Phân chia thành ba mối quan hệ vai giao tiếp: vai trên - vai dưới (người có địa vị cao với người có địa vị thấp), ngang vai, và vai dưới - vai trên.

Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả: Là phương pháp chủ đạo, bao gồm:
    • Thủ pháp thống kê và phân loại: Thu thập các phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi trong tư liệu khảo sát, phân loại thành các tiểu nhóm theo chủ đề, biểu thức ngôn ngữ và các biến số xã hội.
    • Thủ pháp phân tích thành tố nghĩa: Phân tích các thành tố cấu trúc ngữ nghĩa của phát ngôn hỏi và phát ngôn đáp trong các tình huống giao tiếp cụ thể.
  • Phương pháp khảo sát: Thu thập ngữ liệu thực tế từ các cuộc ghi âm hội thoại đời thường, bóc tách diễn ngôn từ video truyền hình và trích xuất hội thoại trong văn bản văn học.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích cấu trúc tương tác của các cặp thoại đặt trong mối quan hệ hữu cơ với ngữ cảnh và các nhân tố quyền lực, tuổi tác, giới tính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hành động ngôn ngữ, hành động hỏi và lý thuyết phân tầng xã hội. Tác giả chỉ ra sự chuyển biến từ nghiên cứu cấu trúc tĩnh sang nghiên cứu ngữ dụng và tương tác hội thoại, đồng thời xác lập khung lý thuyết cho toàn bộ luận án. Luận án phân tích chi tiết bốn điều kiện thỏa mãn hành vi hỏi của Searle, các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (IFIDs) trong tiếng Việt, cơ chế vận hành của cặp thoại hỏi - đáp, và luận giải cơ sở khoa học của việc lựa chọn ba biến xã hội (tuổi, giới, địa vị) trong hệ thống phân tầng xã hội của người Việt.

Chương 2: Đặc điểm của hành động hỏi xét từ góc độ phân tầng xã hội

Chương 2 tập trung khảo sát, miêu tả và phân tích cấu trúc nội dung và hình thức của hành động hỏi dưới sự tác động của ba biến số xã hội. Nội dung chương được tổ chức qua các phần chính:

  1. Các chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ phân tầng xã hội:
    • Phân tích sự phân bố chủ đề hỏi theo các nhóm tuổi (nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, trung niên, người cao tuổi).
    • Phân tích sự khác biệt về chủ đề hỏi giữa nam giới và nữ giới.
    • Phân tích sự chi phối của địa vị xã hội (vai trên - vai dưới, ngang vai, vai dưới - vai trên) đến việc lựa chọn chủ đề hỏi.
  2. Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội:
    • Khảo sát ba nhóm biểu thức hỏi cơ bản: Biểu thức hỏi tổng quát (hỏi bao trùm toàn bộ sự việc), Biểu thức hỏi chuyên biệt (hỏi về các thành phần, chi tiết sự việc qua từ nghi vấn), và Biểu thức hỏi lựa chọn (sử dụng quan hệ từ hay hoặc cặp khuôn lựa chọn).
    • Thống kê tỷ lệ và cách thức sử dụng các biểu thức hỏi theo từng nhóm tuổi, từng giới và từng mối quan hệ địa vị.
  3. Sự chi phối của phân tầng xã hội đối với hành động hỏi trong tiếng Việt:
    • Luận giải cơ chế tác động của nhân tố tuổi: Sự điều chỉnh từ ngữ xưng hô, việc sử dụng các tiểu từ tình thái dứt câu theo nguyên tắc "kính trên nhường dưới".
    • Luận giải cơ chế tác động của nhân tố giới: Tính trực diện, ngắn gọn, hướng ngoại của nam giới đối lập với tính chi tiết, cẩn trọng, giàu yếu tố tình thái rào đón của nữ giới.
    • Luận giải cơ chế tác động của nhân tố địa vị: Quyền lực kiểm soát hội thoại, áp đặt lượt lời và dẫn dắt chủ đề của vai trên so với sự cẩn trọng, mang tính thăm dò của vai dưới.

Chương 3: Đặc điểm của hồi đáp hỏi xét từ góc độ phân tầng xã hội

Chương 3 đi sâu khảo sát vế thứ hai của cặp thoại tương tác — hồi đáp hỏi — dựa trên hai nhóm loại hình: hồi đáp tích cực và hồi đáp tiêu cực. Các nội dung chính gồm:

  1. Các kiểu hồi đáp cho hành động hỏi trong tiếng Việt:
    • Nhận diện hồi đáp tích cực (cung cấp đúng thông tin được yêu cầu, câu trả lời trực tiếp hoặc gián tiếp phù hợp).
    • Nhận diện hồi đáp tiêu cực (từ chối trả lời, trì hoãn, trả lời bằng một câu hỏi ngược lại, không khớp thông tin).
  2. Khảo sát các kiểu hồi đáp hỏi theo từng biến số xã hội:
    • Theo góc độ tuổi: Thống kê tỷ lệ hồi đáp tích cực và tiêu cực; phân tích đặc điểm ngôn ngữ của người trẻ tuổi khi hồi đáp người lớn tuổi (bắt buộc có từ ngữ xưng hô lễ phép, tiểu từ tình thái dạ, vâng, ạ) và ngược lại.
    • Theo góc độ giới: Phân tích xu hướng phản hồi của nam giới và nữ giới; sự khác biệt về độ dài câu trả lời, mức độ chi tiết của thông tin và chiến lược giảm nhẹ mức độ cam kết.
    • Theo góc độ địa vị: Phân tích sự bất đối xứng giữa người có quyền lực (vai trên) và người ở vị thế phụ thuộc (vai dưới) trong việc lựa chọn hình thức hồi đáp trực tiếp, hồi đáp mở rộng hoặc phản hồi tiêu cực.
  3. Sự chi phối của phân tầng xã hội đối với hồi đáp hỏi:
    • Tổng kết quy luật chi phối của các nhân tố tuổi, giới, địa vị đến cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa, mức độ lịch sự và chiến lược giao tiếp trong các tham thoại hồi đáp.

Hệ thống bảng số liệu và biểu đồ trong luận án

Luận án xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê cụ thể để minh chứng cho các phân tích định tính:

Danh mục bảng thống kê trong luận án Danh mục biểu đồ phân tích trong luận án
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp số lượng chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi Biểu đồ 2.1: Các chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi
Bảng 2.2: Chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ giới Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ các nhóm biểu thức hỏi thường gặp từ góc độ PTXH
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp số lượng chủ đề xuất hiện trong HĐH từ góc độ địa vị Biểu đồ 2.3 - 2.8: Biểu thức hỏi tổng quát, chuyên biệt, lựa chọn theo chủ đề hỏi của nam và nữ
Bảng 2.4 - 2.6: Biểu thức hỏi tổng quát, chuyên biệt, lựa chọn từ góc độ tuổi Biểu đồ 2.9 - 2.17: Biểu thức hỏi tổng quát, chuyên biệt, lựa chọn theo vai giao tiếp trên - dưới, ngang vai, dưới - trên
Bảng 3.1 - 3.2: Hồi đáp tích cực và tiêu cực cho HĐH từ góc độ tuổi Biểu đồ 3.1: Hồi đáp tích cực và hồi đáp tiêu cực trong tiếng Việt từ góc độ tuổi
Bảng 3.3 - 3.4: Hồi đáp tích cực và tiêu cực cho HĐH từ góc độ giới Biểu đồ 3.2: Hồi đáp tích cực và hồi đáp tiêu cực trong tiếng Việt từ góc độ giới
Bảng 3.5 - 3.6: Hồi đáp tích cực và tiêu cực cho HĐH từ góc độ địa vị Biểu đồ 3.3: Tổng hợp số lượng các kiểu hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ địa vị

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án góp phần làm sáng tỏ thêm đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa - ngữ dụng của cặp hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt khi đặt trong thế tương tác giao tiếp thực tế.
  2. Luận án chứng minh một cách cụ thể và có căn cứ dữ liệu về sự chi phối của các nhân tố phân tầng xã hội (tuổi, giới, địa vị) đối với hành động ngôn ngữ nói chung và cặp thoại hỏi - đáp nói riêng, làm sâu sắc thêm các luận điểm của Ngôn ngữ học xã hội tiếng Việt.
  3. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính đúng đắn và khả năng ứng dụng hiệu quả của lý thuyết hành động ngôn từ (Searle, Austin), lý thuyết hội thoại và lý thuyết phân tầng xã hội vào việc miêu tả các hiện tượng ngôn ngữ tiếng Việt.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực tế về cách thức người Việt thuộc các lứa tuổi, giới tính và vị thế xã hội khác nhau lựa chọn từ ngữ xưng hô, biểu thức hỏi và phương thức hồi đáp trong giao tiếp hàng ngày và giao tiếp trên truyền thông.
  2. Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc nâng cao kỹ năng giao tiếp xã hội, giúp người sử dụng ngôn ngữ nhận thức được các quy ước xã hội về tuổi tác, tôn ti và vai vế để lựa chọn hành vi ngôn ngữ phù hợp với ngữ cảnh.
  3. Đóng góp nguồn tư liệu ngữ liệu và khung phân tích phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy Ngữ dụng học, Ngôn ngữ học xã hội, Tiếng Việt thực hành và Tiếng Việt như một ngoại ngữ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Cần đưa các tri thức về phân tầng xã hội và nghi thức giao tiếp theo vai vào các chương trình rèn luyện kỹ năng giao tiếp tiếng Việt trong nhà trường.
  • Người tham gia giao tiếp cần chú ý đến vị thế xã hội và độ tuổi của đối thoại viên để sử dụng linh hoạt các yếu tố tình thái, từ ngữ xưng hô và các biểu thức hỏi/đáp nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất và tránh xung đột hội thoại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Do đại dịch COVID-19 kéo dài từ cuối năm 2020 đến giai đoạn hoàn thành luận án, việc thu thập ngữ liệu ghi âm giao tiếp thực tế đời sống gặp nhiều khó khăn và bị hạn chế về số lượng. Tác giả đã phải bổ sung bằng nguồn ngữ liệu từ gameshow truyền hình (Thương vụ bạc tỉ) và các tác phẩm văn học để đảm bảo dung lượng khảo sát.
  • Luận án chỉ tập trung nghiên cứu hành động hỏi trực tiếp do quá trình khảo sát không thu thập được các dữ liệu đại diện cho hành động hỏi gián tiếp.
  • Trong hệ thống 8 nhân tố phân tầng xã hội của người Việt, luận án mới chỉ tập trung xử lý chuyên sâu 3 nhân tố thuộc nhóm 1 (tuổi, giới, địa vị) mà chưa có điều kiện khảo sát toàn diện 5 nhân tố còn lại (nghề nghiệp, vùng miền, học vấn, thu nhập, tôn giáo).

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi khảo sát đối với hành động hỏi gián tiếp trong các ngữ cảnh giao tiếp đa dạng hơn.
  • Gia tăng dung lượng ngữ liệu ghi âm thực tế tự nhiên ngoài đời sống khi điều kiện cho phép.
  • Tiếp tục khảo sát sự tác động của các biến số xã hội thuộc nhóm 2 và nhóm 3 như nghề nghiệp, trình độ học vấn và phương ngữ vùng miền đối với hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết tích hợp giữa Ngữ dụng học và Ngôn ngữ học xã hội, quy trình thiết kế công cụ phân loại cặp thoại hỏi - đáp và phương pháp xử lý dữ liệu hỗn hợp (thực tế, truyền hình, văn học).
  • Giảng viên đại học và cao đẳng: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề cho các học phần Ngữ dụng học, Ngôn ngữ học xã hội, Giao tiếp học và Tiếng Việt thực hành.
  • Giảng viên giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: Tham khảo các phân tích cụ thể về tiểu từ tình thái, từ ngữ xưng hô và quy tắc ứng xử theo tuổi/địa vị của người Việt để hướng dẫn người học sử dụng câu hỏi và câu trả lời tự nhiên, đúng chuẩn mực văn hóa.

Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao

  • Chương 1 (Mục 1.2): Khung lý thuyết chi tiết về điều kiện sử dụng hành vi ở lời của Searle, các phương tiện IFIDs trong tiếng Việt và sự phân tầng 8 nhân tố xã hội theo Nguyễn Văn Khang.
  • Chương 2 (Mục 2.2 và 2.3): Hệ thống miêu tả các biểu thức hỏi tổng quát, chuyên biệt, lựa chọn và các bảng thống kê về sự chi phối của tuổi tác, giới tính đối với cấu trúc câu hỏi.
  • Chương 3 (Mục 3.2 - 3.4): Tiêu chí phân loại hồi đáp tích cực/tiêu cực và sự biến đổi của cấu trúc hồi đáp theo địa vị quyền lực (vai trên - vai dưới).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia các nhân tố phân tầng xã hội tác động đến giao tiếp tiếng Việt thành những nhóm nào và lựa chọn khảo sát những nhân tố nào?

Căn cứ vào phân loại của Nguyễn Văn Khang, luận án chia 8 nhân tố phân tầng xã hội thành ba nhóm tác động từ mạnh đến yếu:

  • Nhóm 1 (Tác động mạnh nhất): Tuổi, địa vị, giới.
  • Nhóm 2 (Tác động vừa phải): Nghề nghiệp, vùng miền, học vấn.
  • Nhóm 3 (Tác động ít): Thu nhập, tôn giáo. Luận án lựa chọn khảo sát ba nhân tố thuộc Nhóm 1 (tuổi, giới, địa vị) vì đây là các biến số chi phối mạnh mẽ nhất đến nội dung và mục đích giao tiếp của người Việt.

2. Tại sao tác giả lại kết hợp khai thác ngữ liệu từ gameshow truyền hình và tác phẩm văn học bên cạnh ngữ liệu thực tế?

Việc thu thập ngữ liệu thực tế bị gián đoạn và gặp nhiều trở ngại do đại dịch COVID-19 kéo dài từ cuối năm 2020 đến khi hoàn thành luận án, khiến số lượng dữ liệu thực tế thu được không đủ lớn. Để khắc phục, tác giả khai thác thêm gameshow truyền hình thực tế "Thương vụ bạc tỉ" (Shark Tank Việt Nam) — nơi có các cuộc trao đổi trực tiếp, chất vấn, tranh biện mặt đối mặt và thông tin nhân vật (tuổi, giới, địa vị, nghề nghiệp) rất rõ ràng; đồng thời khai thác các cặp thoại trong tác phẩm văn học của các nhân vật đã được lập hồ sơ thông tin xã hội cụ thể.

3. Theo luận án, hành động hỏi và hồi đáp hỏi được phân loại thành những kiểu loại cụ thể nào?

  • Về hành động hỏi: Luận án phân loại theo ba nhóm biểu thức hỏi: Biểu thức hỏi tổng quát, biểu thức hỏi chuyên biệt (bộ phận), và biểu thức hỏi lựa chọn; tập trung vào hành động hỏi trực tiếp.
  • Về hồi đáp hỏi: Dựa trên phân loại của Đỗ Hữu Châu, luận án chia thành hai nhóm:
    • Hồi đáp tích cực: Lời đáp đáp ứng và làm thỏa mãn đích của tham thoại hỏi dẫn nhập.
    • Hồi đáp tiêu cực: Lời đáp đi ngược lại đích của tham thoại hỏi dẫn nhập, từ chối hoặc không cung cấp thông tin được yêu cầu.

4. Khái niệm "giới" được luận án định nghĩa và tiếp cận dựa trên cơ sở nào?

Luận án phân biệt rõ hai khái niệm "giới tính" (sex) và "giới" (gender). Tác giả lựa chọn thuật ngữ "giới" theo Điều 5 của Luật Bình đẳng giới năm 2006: "Giới tính" chỉ đặc điểm sinh học của nam và nữ; còn "Giới" chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò và hành vi ứng xử xã hội của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội. Luận án khảo sát sự khác biệt ngôn ngữ giữa hai giới dựa trên định nghĩa xã hội học này.

5. Luận án chỉ ra sự khác biệt cơ bản về phong cách hỏi và trả lời giữa nam giới và nữ giới như thế nào?

Từ tổng quan tài liệu (như nghiên cứu của Hoàng Việt Anh, Linnea Rask) và khảo sát thực tế, luận án chỉ ra rằng nam giới có xu hướng hỏi trực tiếp, ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề và bộc lộ tính quyền lực; trong khi đó, nữ giới có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến phép lịch sự, sử dụng nhiều câu hỏi gián tiếp, câu trả lời có độ dài lớn hơn, chi tiết hơn và sử dụng nhiều phương tiện ngôn ngữ biểu thị sự rào đón hoặc giảm nhẹ mức độ khẳng định.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Bùi Đoan Trang là công trình nghiên cứu hệ thống về đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt dưới góc độ phân tầng xã hội. Tác giả đã vận dụng nhất quán lý thuyết hành động ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại và lý thuyết phân tầng xã hội để khảo sát ngữ liệu đa nguồn (thực tế, truyền hình và văn học), làm sáng tỏ sự chi phối của ba nhân tố then chốt: tuổi, giới và địa vị. Công trình cung cấp các luận cứ ngôn ngữ học xã hội rõ ràng, đóng góp thiết thực cho nghiên cứu ngữ dụng học tiếng Việt cũng như công tác giảng dạy ngôn ngữ và giao tiếp thực hành.