ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh Tay Chân Miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm lây từ ngƣời sang ngƣời, dễ gây thành dịch. Bệnh do hai nhóm tác nhân gây bệnh thƣờng gặp là Coxsackie virus A16 (CV A16) và Enterovirus 71 (EV71) gây ra. Biểu hiện lâm sàng nổi bật là tổn thƣơng da, niêm mạc dƣới dạng phỏng nƣớc ở các vị trí nhƣ niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối. Phần lớn các trƣờng hợp TCM diễn biến tự khỏi, tuy nhiên bệnh có một số biến chứng nguy hiểm nhƣ viêm não - màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không đƣợc phát hiện sớm và xử trí kịp thời[1].
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, bệnh đã phổ biến ở một số nƣớc trong khu vực và đang trở thành vấn đề y tế công cộng quan trọng tại Châu Á Thái Bình Dƣơng. TCM đã đƣợc ghi nhận ở Trung quốc, Hồng Kông, Việt Nam, Đài Loan với một tỷ lệ có biến chứng thần kinh và tim mạch khá cao. Năm 2013 tại Trung Quốc xảy ra một vụ dịch với 1.959 trƣờng hợp mắc, Nhật Bản có 281.149 trƣờng hợp mắc, Singapore mắc 26.473 trƣờng hợp [15] Tại Việt Nam, bệnh TCM gặp quanh năm trên toàn quốc. Theo báo cáo của Cục Y tế dự phòng, vụ dịch TCM trong năm 2012 có 157.654 ca mắc và 45 ca tử vong [15].
Nhiều biến chứng cũng đã đƣợc thông báo nhƣ hôn mê, co giật, phù phổi cấp, viêm cơ tim. Bệnh lây truyền qua đƣờng tiêu hóa thông qua thức ăn nƣớc uống, bàn tay của trẻ hoặc ngƣời chăm sóc trẻ, các đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hàng ngày nhƣ chén, đũa, ly cốc bị nhiễm virus từ phân hoặc dịch nốt phòng, vết loét, nƣớc bọt. Bệnh TCM thƣờng gặp ở trẻ dƣới 5 tuổi, nhƣng chiếm đa số trẻ dƣới 3 tuổi, các bà mẹ khi phát hiện trẻ mắc bệnh thì tự mua thuốc hoặc đi trạm Y tế xã khám và điều trị. Khi bệnh không giảm các bà mẹ đƣa trẻ đến bệnh viện tỉnh, huyện khám và điều trị tiếp.
Cho đến nay, bệnh vẫn chƣa có thuốc điều trị đặc hiệu, các biện pháp phòng và điều trị hiện nay đƣợc ngành y tế sử dụng chủ yếu là biện pháp không dùng thuốc với mục đích làm gián đoạn chuỗi lây truyền của virus, ngăn ngừa biến chứng và tử vong. Tại tỉnh Sóc Trăng năm 2017 có 1.419 ca mắc, tăng cao so với cùng kỳ năm 2016 tại 11/11 huyện, Thị, thành phố. Riêng huyện Châu Thành là một trong 11 huyện, thị của tỉnh Sóc Trăng có tỷ lệ mắc cao so với các huyện khác. Năm 2017, huyện Châu 2 Thành có 153 ca mắc tập trung chủ yếu ở trẻ 2-3 tuổi, tăng cao so với năm 2016 (82 ca), không có trƣờng hợp tử vong.
So với các bệnh truyền nhiễm khác thì số mắc bệnh TCM tăng cao trong năm 2017, bệnh TCM đang là bệnh truyền nhiễm mới nổi gần đây với số mắc cao, gây ảnh hƣởng sức khỏe của trẻ nhỏ, gây lo lắng cho ngƣời dân và gây quá tải bệnh viện. Tuy nhiên, thông tin về bệnh TCM tại tỉnh Sóc Trăng nói chung và huyện Châu Thành nói riêng hiện nay còn quá ít, đặc biệt là các đặc điểm về dịch tễ bệnh TCM, cách thực hành chăm sóc trẻ bệnh trƣớc và sau khi nhập viện của ngƣời dân tại cộng đồng. Do đó, một số câu hỏi đƣợc đặt ra là: Đặc điểm dịch tễ bệnh TCM của trẻ dƣới 5 tuổi ở huyện Châu Thành là gì? Cách thực hành chăm sóc bệnh TCM trƣớc và sau khi nhập viện của bà mẹ bệnh nhi nhƣ thế nào? Trong công tác chăm sóc trẻ mắc bệnh TCM của bà mẹ có những thuận lợi, khó khăn gì? Nhằm trả lời các câu hỏi và cung cấp thông tin xây dựng kế hoạch chƣơng trình phòng, chống bệnh TCM tại địa phƣơng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:“Đặc điểm dịch tễ học bệnh Tay Chân Miệng của trẻ dưới 5 tuổi và thực hành chăm sóc của bà mẹ ở huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, năm 2017” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh Tay Chân Miệng của trẻ dƣới 5 tuổi tại huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng năm 2017.
Mô tả thực hành chăm sóc bệnh nhi trƣớc và sau khi nhập viện của bà mẹ có trẻ dƣới 5 tuổi mắc bệnh Tay Chân Miệng tại huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng năm 2017. Mô tả một số thuận lợi, khó khăn khi chăm sóc trẻ của bà mẹ có bệnh nhi mắc bệnh Tay Chân Miệng dƣới 5 tuổi tại huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng năm 2017. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về bệnh Tay Chân Miệng 1.
Khái niệm về bệnh Tay Chân Miệng Bệnh Tay Chân Miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm lây từ ngƣời sang ngƣời và dễ gây thành dịch. Bệnh do hai chủng vi rút Coxsackievirus A16 (CV A16) và Enterovirus71 (EV71); trong đó hầu hết các trƣờng hợp biến chứng nặng thƣờng do EV71. Biểu hiện chính của bệnh là tổn thƣơng da, niêm mạc dƣới dạng phỏng nƣớc ở các vị trí đặc biệt nhƣ niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm nhƣ viêm màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không đƣợc phát hiện sớm và xử trí kịp thời.
[2] Bệnh lây chủ yếu đƣờng tiêu hóa, nguồn lây chính từ nƣớc bọt, phỏng nƣớc và phân của trẻ nhiễm bệnh. Bệnh TCM gặp rải rác quanh năm hầu hết ở các địa phƣơng. Tại các tỉnh phía nam, bệnh có xu hƣớng tăng vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12[4]. Lịch sử bệnh Tay Chân Miệng Bệnh đƣợc mô tả lần đầu tại Toronto-Canada năm 1957 [7].
Đến năm 1959 trong vụ dịch tại Birmingham-Anh, bệnh đã đƣợc đặt tên Tay Chân Miệng (TCM). Cũng tại vụ dịch này, Coxsackievirus A16 đã đƣợc xác định là căn nguyên gây bệnh. Cho đến năm 1974, căn nguyên EV71 đã đƣợc Schmidt và cộng sự mô tả dựa trên 20 bệnh nhân bị bệnh TCM có biến chứng thần kinh trung ƣơng, trong đó có 1 ca tử vong tại California (Mỹ) vào giữa những năm 1969 và 1972. Sau đó, nhiều vụ dịch bùng phát đƣợc ghi nhận tại Mỹ (1972- 1977 và 1987), Úc (1972- 1973 và 1986), Thụy Điển (1973).
Bắt đầu từ cuối những năm 1990, các vụ dịch TCM đã lan rộng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dƣơng với một tỷ lệ lớn có biểu hiện bệnh lý thần kinh và tim mạch. Trong thời gian gần đây bệnh TCM xuất hiện trên phạm vi rộng nhiều nƣớc trên Thế giới, nhất là các nƣớc trong khu vực Châu Á [5]. 5 Tại Việt Nam bệnh TCM do EV71 đƣợc phát hiện đầu tiên và phân lập tại Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2003[6]. Đến năm 2005 nghiên cứu hợp tác giữa bệnh viện Nhi Đồng 1- Viện Pastuer Thành phố Hồ Chí Minh- Đại học Sarawak-Bệnh viện Sibo (Malaisia) và đại học Sydney (Úc) cho thấy trong 764 bệnh nhân đƣợc chẩn đoán mắc bệnh TCM có tới 411 ca xét nghiệm phân lập đƣợc tác nhân mắc bệnh là virus ( 53,8%), gồm 216 ca do CA16 ( 52,6%), 173 ca do EV71 (42,1%) và 22 ca virus đƣờng ruột khác (5,3%) [7].
Tóm lại, TCM do nhóm virus đƣờng ruột gây nên EV71 và CA16 là hai tác nhân gây bệnh chủ yếu, EV71 là thủ phạm nguy hiểm gây các biến chứng thần kinh, biến chứng tim mạch, hô hấp và có thể dẫn đến tử vong nếu không đƣợc phát hiện và điều trị sớm kịp thời. Chuỗi lan truyền bệnh Tay Chân Miệng Nguồn truyền Đƣờng truyền nhiễm Khối cảm thụ nhiễm Cửa ra Cửa vào -Chất tiết dịch họng -Chất tiết dịch họng -Dịch mụn nƣớc từ -Dịch mụn nƣớc từ sang thƣơng sang thƣơng -Phân ngƣời bệnh -Phân ngƣời bệnh -Nƣớc bọt, các vết phỏng nƣớc và -Ngƣời bệnh phân của trẻ nhiễm bệnh -Ngƣời: -Ngƣời vừa khỏi bệnh -Thực phẩm, nƣớc, vật dụng +Tuổi, giới, yếu tố di truyền -Ngƣời lành mang trùng +Miễn dịch Sơ đồ 1. Sơ đồ chuỗi lan truyền bệnh TCM Trong dịch tễ học, mô hình bộ ba dịch tễ học đƣợc xây dựng nhằm mô tả các bệnh truyền nhiễm là kết quả của sự tƣơng tác giữa tác nhân gây bệnh, vật chủ và môi trƣờng. Cụ thể hơn, sự lây truyền xảy ra khi các tác nhân gây bệnh rời khỏi nguồn truyền nhiễm (vật chủ) của chúng thông qua đƣờng bài xuất, đƣợc lan truyền bằng một số kiểu lây nhiễm, và thông qua một đƣờng xâm nhập thích hợp để lây nhiễm cho đối tƣợng cảm nhiễm.
Trình tự này đƣợc gọi là chuỗi lan truyền bệnh truyền nhiễm 6 (Sơ đồ 1). Mô tả chuỗi lan truyền có ý nghĩa quan trọng về mặt lý thuyết cũng nhƣ thực hành trong việc kiểm soát và loại trừ bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng. Nguồn truyền nhiễm Ngƣời là vật chủ tự nhiên và duy nhất trong bệnh TCM, do vậy nguồn truyền nhiễm của bệnh TCM là ngƣời nhiễm Enterovirus: ngƣời bệnh, ngƣời vừa khỏi bệnh, ngƣời lành mang trùng. Nguồn truyền chính là dịch tiết mũi họng, nƣớc bọt, nốt phồng nƣớc, mụn nƣớc và phân của trẻ nhiễm bệnh.
Virus có khả năng đào thải qua phân từ 2-4 tuần, giai đoạn mạnh nhất là tuần đầu mắc bệnh. Virus có nhiều trong dịch tiết từ các nốt phỏng nƣớc, vết loét của bệnh nhân. Bệnh TCM không lây từ động vật sang ngƣời[5]. Ngƣời bệnh, ngƣời vừa khỏi bệnh hay ngƣời lành không triệu chứng là những ổ chứa tác nhân gây bệnh.
Virus có mặt rất sớm ở dịch tiết trong họng khoảng 5-7 ngày, virus có trong dịch tiết mụn nƣớc từ 1-2 tuần và có thể tồn tại trong phân tới hơn 1 tháng. Điều đáng lƣu ý đôi khi trẻ mắc bệnh không phát hiện yếu tố dịch tễ tiếp xúc với ngƣời bệnh, chứng tỏ trẻ lây bệnh từ ngƣời nhà, ngƣời chăm sóc. Cục Y Tế Dự Phòng tổng kết trên 108.917 ca TCM năm 2011, có 6,9% trƣờng hợp mắc bệnh từ nguồn lây tại gia đình, cộng đồng và 23,1% lây từ trƣờng học [4]. Bộ Y tế khuyến cáo cha mẹ và ngƣời chăm sóc trẻ chú ý rửa tay sạch thƣờng xuyên cho trẻ và ngƣời chăm sóc trẻ, vệ sinh đồ chơi và dụng cụ trƣớc khi cho trẻ chơi đề phòng dịch bệnh xảy ra[4].
Đƣờng truyền nhiễm, và xâm nhập Bệnh lây chủ yếu qua đƣờng tiêu hóa hay đƣờng “phân miệng”, lây truyền từ ngƣời sang ngƣời do tiếp xúcvới chất tiết hầu họng (nƣớc bọt), dịch mụn nƣớc từ sang thƣơng ở da niêm, phân và thời gian bài xuất kéo dài. Trong các đƣờng bài xuất virus thì đƣờng bài xuất nào là quan trọng, quyết định đến sự lây lan hay bùng nổ dịch TCM vẫn còn chƣa đƣợc biết. Xác định phƣơng thức lây nhiễm có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn phƣơng pháp kiểm soát các bệnh truyền nhiễm.