CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Các khái niệm cơ bản. Khái niệm đại dịch. Đại dịch có thể được định nghĩa "là dịch bệnh xuất hiện trên toàn cầu hoặc trên một khu vực rộng lớn xuyên qua biên giới quốc gia, và thường ảnh hưởng đến rất nhiều người" [2].
Tổ chức y tế thế giới (WHO) chia đại dịch thành 6 giai đoạn miêu tả quá trình một loại virus cúm mới nhiễm trùng vài người đầu tiên rồi phát triển thành dịch. Điều này bắt đầu chủ yếu là sự lây nhiễm ở động vật, với một vài ca động vật lây nhiễm qua người, sau đó đến giai đoạn virus bắt đầu phát tán trực tiếp giữa người sang người, và cuối cùng là dịch bệnh khi sự lây nhiễm phân bố trên toàn cầu [3]. Khái niệm đại dịch COVID-19. Đại dịch COVID-19 [4], [5] là một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus SARS-CoV-2 (virus Corona 2 gây ra hội chứng hô hấp cấp tính nặng), đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu [6].
Khởi nguồn vào cuối tháng 12 năm 2019 với tâm dịch đầu tiên được ghi nhận tại thành phố Vũ Hán thuộc miền Trung Trung Quốc, bắt nguồn từ một nhóm người mắc viêm phổi không rõ nguyên nhân. Giới chức y tế địa phương xác nhận rằng trước đó họ đã từng tiếp xúc, chủ yếu với những thương nhân buôn bán và làm việc tại chợ bán buôn hải sản Hoa Nam. Các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu và phân lập được một chủng corona virus mới, được Tổ chức Y tế Thế giới lúc đó tạm thời gọi là 2019-nCoV, là một loại virus RNA sợi đơn cảm nhận dương tính với tế bào biểu mô và hệ hô hấp, có trình tự gen giống với SARS-CoV trước đây với mức tương đồng lên tới 79,5%. Giống như người tiền nhiệm của nó, SARS-CoV, SARS-CoV-2 cũng thuộc chi betacoronavirus cùng với MERS-CoV và thuộc họ Coronaviridae [7], [8], [9].
Các ca nghi nhiễm đầu tiên ở Vũ Hán được báo cáo vào ngày 31 tháng 12 năm 2019. Trường hợp tử vong do SARS-CoV-2 đầu tiên xảy ra ở Vũ Hán vào ngày 9 tháng 1 năm 2020 [10]. Các ca nhiễm virus đầu tiên được xác nhận bên ngoài Trung Quốc bao gồm hai người phụ nữ ở Thái Lan và một người đàn ông ở Nhật Bản. Biểu hiện lâm sàng của các triệu chứng COVID-19 bao gồm sốt, mệt mỏi, ho khan, khó chịu và khó thở 3 [11].
Cho đến nay, căn bệnh này được đặc trưng bởi tỷ lệ mắc và tử vong cao [12] cùng với các bệnh khác. Sự lây nhiễm virus từ người sang người đã được xác nhận cùng với tỷ lệ bùng phát dịch tăng nhanh vào giữa tháng 1 năm 2020 [13-16]. Ngày 23 tháng 1 năm 2020, chính phủ Trung Quốc quyết định phong tỏa Vũ Hán, toàn bộ hệ thống giao thông công cộng và hoạt động xuất - nhập khẩu đều bị tạm ngưng [17]. Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ra tuyên bố gọi "COVID-19" là "Đại dịch toàn cầu" [18-21].
Các yếu tố liên quan đến COVID-19. Triệu chứng bệnh COVID-19 Lâm sàng Một trong những vấn đề chính của đại dịch COVID-19 là các triệu chứng bệnh rất đa dạng và có thể có các biểu hiện khác nhau giữa các bệnh nhân. Một số triệu chứng cực kỳ nghiêm trọng, trong khi những triệu chứng khác nhẹ đến mức bệnh nhân không có triệu chứng. Trong những trường hợp nghiêm trọng, một kiểu tiến triển điển hình của bệnh xảy ra: những bệnh nhân mắc bệnh nhẹ có thể có dấu hiệu hồi phục sau tuần đầu tiên, nhưng một số có thể có các triệu chứng dai dẳng hoặc có thể xấu đi nhanh chóng trở lại sau đó.
Các triệu chứng COVID-19 phổ biến nhất có xu hướng xuất hiện trong khoảng 2 đến 14 ngày sau khi tiếp xúc với virus, bao gồm sốt, đau cơ, đau đầu, ho, đau họng và mất vị giác. Trong những trường hợp nghiêm trọng, do nhiễm trùng phổi quá lớn, các dấu hiệu cấp cứu phát sinh bao gồm khó thở do viêm phổi. Diễn biến lâm sàng đặc trưng nhất của bệnh nhân COVID-19 nặng là sự phát triển của ARDS. Tình trạng phổi đe dọa tính mạng này ngăn cản đủ oxy đi qua phế nang vào máu.
Vì vậy, để tăng cường oxy cho phổi, bệnh nhân được đưa vào thở máy. Bất chấp những nỗ lực tích cực như vậy, khoảng 40% bệnh nhân ARDS không qua khỏi [22]. - Các triệu chứng phổ biến nhất của COVID-19 là sốt, ho khan và mệt mỏi. - Các triệu chứng khác ít phổ biến hơn và có thể ảnh hưởng đến một số bệnh nhân bao gồm: đau nhức, nghẹt mũi, nhức đầu, viêm kết mạc, đau họng, tiêu chảy, mất vị giác hoặc khứu giác hoặc phát ban trên da hoặc đổi màu ngón tay hoặc ngón chân.
Các triệu chứng này thường nhẹ và bắt đầu dần dần. Một số người bị nhiễm bệnh nhưng chỉ có các triệu chứng rất nhẹ có thể bỏ qua. 4 - Hầu hết mọi người (khoảng 80%) khỏi bệnh mà không cần điều trị tại bệnh viện. Cứ 5 người thì có 1 người nhiễm COVID-19 bị bệnh nặng và khó thở.
Người lớn tuổi và những người có các vấn đề y tế tiềm ẩn như huyết áp cao, các vấn đề về tim và phổi, tiểu đường hoặc ung thư, có nguy cơ mắc bệnh nghiêm trọng cao hơn. - Tuy nhiên, bất kỳ ai cũng có thể mắc phải COVID-19 và bị bệnh nặng. Mọi người ở mọi lứa tuổi bị sốt và / hoặc ho kèm theo khó thở / thở gấp, đau / tức ngực hoặc mất khả năng nói hoặc cử động nên đi khám ngay. Nếu có thể, nên gọi điện trước cho cơ sở hoặc nhà cung cấp dịch vụ y tế để bệnh nhân được hướng dẫn đến đúng phòng khám [23].
Cận lâm sàng - Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu thay đổi không đặc hiệu: + Số lượng bạch cầu trong máu có thể bình thường hoặc giảm; số lượng bạch cầu lympho thường giảm, đặc biệt nhóm diễn biến nặng. + CRP bình thường hoặc tăng, PCT thường bình thường. Một số trường hợp tăng nhẹ ALT, AST, CK, LDH. + Trong các trường hợp diễn biến nặng có các biểu hiện suy chức năng các cơ quan, rối loạn đông máu, rối loạn điện giải và toan kiềm.
- X-Quang và chụp cắt lớp vi tính phổi + Ở giai đoạn sớm hoặc chỉ viêm đường hô hấp trên, hình ảnh X Quang bình thường. + Khi có viêm phổi, tổn thương thường ở hai bên với dấu hiệu viêm phổi kẽ và đám mờ lan tỏa, ở ngoại vi hay thùy dưới. Tổn thương có thể tiên triển nhanh trong ARDS. Ít khi gặp dấu hiệu tạo hang hay tràn dịch tràn khí màng phổi.
+ Xét nghiệm khẳng định căn nguyên: Phát hiện SARS – CoV – 2 bằng kỹ thuật Real – Time PCR hoặc giải trình tự gene từ các mẫu bệnh phẩm (dịch từ hầu họng, đờm, …). Xét nghiệm này cung cấp một công cụ chẩn đoán nhạy cảm, dựa trên axit nucleic để đánh giá các mẫu bệnh phẩm từ bệnh nhân trong giai đoạn nhiễm trùng cấp tính [24]. Cách thức lây truyền của bệnh COVID – 19 COVID-19 được cho là lây lan chủ yếu qua tiếp xúc gần gũi từ người này sang người khác, bao gồm cả giữa những người ở gần nhau (trong vòng khoảng 6 feet =2m). 5 Những người bị nhiễm bệnh nhưng không biểu hiện triệu chứng cũng có thể lây virus sang người khác [25].
- COVID-19 lây lan rất dễ dàng từ người này sang người khác: Mức độ dễ dàng lây lan của virus từ người này sang người khác có thể khác nhau. Loại virus gây ra bệnh dường như lây lan hiệu quả hơn bệnh cúm nhưng không hiệu quả bằng bệnh sởi, là một trong những loại virus dễ lây lan nhất được biết là ảnh hưởng đến con người. - COVID-19 lây lan phổ biến nhất khi tiếp xúc gần + Những người ở gần (trong vòng 6 feet=2m) một người bị bệnh hoặc tiếp xúc trực tiếp với người đó có nguy cơ lây nhiễm cao nhất. + Khi những người bị bệnh ho, hắt hơi, hát, nói chuyện hoặc hít thở, họ sẽ tạo ra các giọt đường hô hấp.
Những giọt này có thể có kích thước từ những giọt lớn hơn (một số có thể nhìn thấy được) đến những giọt nhỏ hơn. Các giọt nhỏ cũng có thể tạo thành hạt khi chúng khô rất nhanh trong luồng không khí. + Nhiễm trùng xảy ra chủ yếu do tiếp xúc với các giọt đường hô hấp khi một người tiếp xúc gần với người có COVID-19. + Các giọt đường hô hấp gây ra nhiễm trùng khi chúng được hít vào hoặc đọng lại trên các màng nhầy, chẳng hạn như những chất lót bên trong mũi và miệng.
+ Khi các giọt đường hô hấp di chuyển xa hơn từ người bị bệnh, nồng độ của những giọt này giảm. Các giọt lớn hơn rơi ra ngoài không khí do trọng lực. Các giọt và hạt nhỏ hơn phát tán trong không khí. + Theo thời gian, số lượng virus lây nhiễm trong các giọt đường hô hấp cũng giảm dần.
- COVID-19 đôi khi có thể lây lan qua đường truyền trong không khí + Một số bệnh nhiễm trùng có thể lây lan khi tiếp xúc với virus ở dạng giọt và hạt nhỏ có thể tồn tại trong không khí từ vài phút đến hàng giờ. Những virus này có thể lây nhiễm cho những người ở cách xa người bị nhiễm hơn 6 feet hoặc sau khi người đó rời khỏi không gian. + Loại lây lan này được gọi là lây truyền qua đường không khí và là một cách quan trọng để lây lan các bệnh nhiễm trùng như bệnh lao, bệnh sởi và thủy đậu. + Có bằng chứng cho thấy trong một số điều kiện nhất định, những người có COVID-19 dường như đã lây nhiễm cho những người khác cách xa hơn 6 feet.
6 Những sự truyền này xảy ra trong không gian kín có hệ thống thông gió không đủ. Đôi khi người bị nhiễm bệnh đang thở nặng nhọc, chẳng hạn như khi hát hoặc tập thể dục. Lượng nhỏ giọt và hạt truyền nhiễm được tạo ra bởi những người có chứa virus COVID-19 đã trở nên tập trung đủ để lây lan virus sang người khác. Những người bị nhiễm ở cùng một không gian trong cùng một thời điểm hoặc ngay sau khi người bị nhiễm rời đi.
+ Dữ liệu hiện có chỉ ra rằng virus gây ra COVID-19 lây lan qua tiếp xúc gần gũi với một người có COVID-19 phổ biến hơn nhiều so với lây truyền trong không khí [26]. - COVID-19 ít lây lan hơn khi tiếp xúc với các bề mặt bị ô nhiễm + Các giọt hô hấp cũng có thể đáp xuống các bề mặt và đồ vật. Có thể một người có thể bị nhiễm bệnh bằng cách chạm vào một bề mặt hoặc vật thể có virus và sau đó chạm vào miệng, mũi hoặc mắt của chính họ.