Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam, văn học trung đại giữ vị trí mở đầu cho nền văn học viết và đặt nền móng vững chắc cho sự vận động của văn học dân tộc qua gần mười thế kỷ. Nền văn học này được tạo thành từ hai bộ phận song hành là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Nếu văn học chữ Nôm đạt thành tựu rực rỡ ở thể loại thơ và truyện thơ, thì văn học chữ Hán ghi dấu ấn đậm nét ở cả hai mảng thơ và văn xuôi tự sự. Trong dòng chảy văn xuôi tự sự, thể loại truyện truyền kỳ phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XVI với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ và tiếp tục được kế thừa qua các giai đoạn sau. Tác phẩm Lan Trì kiến văn lục (còn gọi là Kiến văn lục) của tác giả Vũ Trinh được giới nghiên cứu, tiêu biểu là PGS. Nguyễn Đăng Na trong công trình Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại – tập 1, xác định là tác phẩm cuối cùng của loại hình truyền kỳ Việt Nam thời trung đại, đồng thời là đại biểu cuối cùng của văn xuôi tự sự thuộc xu hướng thế tục.

Xuất phát từ thực tế nghiên cứu, tác giả khóa luận nhận định các công trình đi trước về Lan Trì kiến văn lục phần lớn mới dừng lại ở mức độ gợi mở, khái quát hoặc tiếp cận mang tính chất lẻ tẻ, chưa tạo thành hệ thống hoàn chỉnh. Đồng thời, giai đoạn thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX chứng kiến sự xuất hiện của trào lưu chủ tình – một khuynh hướng tư tưởng và thẩm mỹ mới mẻ trong văn học trung đại. Việc tiếp cận tác phẩm của Vũ Trinh từ góc độ trào lưu chủ tình mở ra hướng nghiên cứu cần thiết nhằm làm sáng tỏ toàn diện giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật của văn bản.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo 4 nội dung:

  1. Khẳng định giá trị của tác phẩm Lan Trì kiến văn lục và vị trí của tác giả Vũ Trinh trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam.
  2. Tìm hiểu có hệ thống về trào lưu chủ tình của văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX.
  3. Làm rõ đặc điểm chủ tình trong tác phẩm Lan Trì kiến văn lục thông qua hai phương diện: quan niệm nghệ thuật về con người, cuộc sống và các phương thức, bút pháp nghệ thuật.
  4. Trau dồi tri thức chuyên môn phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu ngữ văn sau này của tác giả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm chủ tình thể hiện trong tác phẩm Lan Trì kiến văn lục.
  • Phạm vi nghiên cứu: Văn bản khảo sát chính là toàn bộ 45 truyện ngắn thuộc 3 quyển cùng 4 bài tựa đầu tác phẩm Lan Trì kiến văn lục. Đồng thời, đề tài thực hiện thao tác so sánh, đối chiếu mở rộng với một số tác phẩm văn học tiêu biểu giai đoạn thế kỷ XVII – XIX (Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều, Truyện Hoa Tiên, thơ Hồ Xuân Hương, Văn tế Trương Quỳnh Như...).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các công trình nghiên cứu văn học sử, thi pháp học và lý luận văn học trung đại:

  • Khung khái niệm then chốt là lý thuyết về "Trào lưu chủ tình trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX" do GS.TS. Trần Nho Thìn xác lập. Khái niệm này định danh xu hướng văn học đề cao chữ "Tình" (emotions), tôn trọng các cung bậc cảm xúc tự nhiên của con người (hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục) thay vì sự kiềm tỏa của lý trí Nho giáo truyền thống. Trào lưu này gắn liền với bước chuyển dịch từ mẫu hình con người "trị ngoại" (con người nghĩa vụ cộng đồng, tu tề trị bình) sang con người "trị nội" (con người cá nhân trần thế, sống cho đời sống nội cảm của chính mình).
  • Cơ sở lý thuyết về thể loại truyền kỳ và văn xuôi tự sự thế tục dựa trên các đánh giá chuyên sâu của PGS.TS. Nguyễn Đăng Na (Đặc điểm văn học Việt Nam trung đại – Những vấn đề văn xuôi tự sự), GS. Nguyễn Huệ Chi (Từ điển văn học bộ mới), và hệ thống thi pháp học trung đại của GS. Trần Đình Sử (Thi pháp văn học trung đại).
  • Nền tảng tư tưởng văn hóa kết hợp các quan điểm triết học Nho giáo (tư tưởng thân dân, "dân vi bản"), tư tưởng Phật giáo (thuyết nhân quả, luân hồi báo ứng, quan niệm "vạn pháp duy tâm tạo") và tư tưởng Lão Trang trong việc giải phóng cảm xúc và tư duy nghệ thuật huyền ảo.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu văn học chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp hệ thống: Đặt toàn bộ 45 truyện của Lan Trì kiến văn lục trong một chỉnh thể thống nhất về tư tưởng chủ tình và đặc trưng thể loại truyền kỳ.
  • Phương pháp thống kê - phân loại: Khảo sát, lập danh mục các truyện, các nhóm nhân vật (phụ nữ, nam nữ yêu đương, trẻ em, động vật biểu trưng), các chi tiết kỳ ảo và chi tiết hiện thực trong tác phẩm.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đặt văn bản trong mối liên hệ tương đồng và dị biệt với các sáng tác cùng thời (Truyện Kiều, khúc ngâm, hát nói) và các tập truyền kỳ giai đoạn trước (Lĩnh Nam chích quái, Truyền kỳ mạn lục).
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp góc nhìn văn học sử, văn hóa học, triết học và sử học để soi chiếu bối cảnh xã hội thế kỷ XVIII - XIX và cuộc đời biến động của tác giả.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm văn bản dịch thuật và khảo chứng của Lan Trì kiến văn lục, các tài liệu sử liệu (Đại Nam liệt truyện, Đại Việt sử ký toàn thư), cùng hệ thống bài tựa của Ngô Thì Hoàng, Tín Như Thị, Trần Danh Lưu, Nguyễn Tử Kính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về tác giả Vũ Trinh và trào lưu chủ tình

Tiểu mục thứ nhất tập trung phục dựng cuộc đời, con người và sự nghiệp văn học của Vũ Trinh (1759 - 1828), tự Duy Chu, hiệu Nguyễn Hanh, Lan Sơn, Lan Trì ngư giả. Ông sinh ra tại làng Xuân Lan, huyện Lương Tài, trấn Kinh Bắc (nay thuộc thôn Ngọc Quan, xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh) trong một gia đình thế gia Nho học. Sau khi đỗ Hương tiến và làm tri phủ Quốc Oai, năm 1787 ông được vua Lê Chiêu Thống triệu vào triều. Khi thời cuộc Bắc Hà biến động, nhà Tây Sơn thay thế nhà Lê, Vũ Trinh cùng cha dốc sức phò Lê nhưng bất thành. Dưới triều Nguyễn, ông làm quan cho vua Gia Long, từng giữ trọng trách soạn thảo chiếu chỉ văn từ, cùng Trần Hựu và Nguyễn Văn Thành biên soạn Bộ hình luật (Luật Gia Long), và từng được cử đi sứ Trung Quốc. Do can thiệp bênh vực con trai Tổng trấn Nguyễn Văn Thành trong một vụ án văn tự phản nghịch, ông bị kết án lưu đày ở Quảng Nam suốt 12 năm; sau khi được ân xá về quê vài ngày thì tạ thế, thọ 70 tuổi, thụy là Mẫn Trực.

Vũ Trinh có mối quan hệ thân tộc và văn chương mật thiết với đại thi hào Nguyễn Du: vợ Vũ Trinh là con gái Đại tư đồ Nguyễn Nghiễm, tức chị cùng mẹ của Nguyễn Du. Vũ Trinh cũng chính là người đầu tiên tiếp cận và viết lời bình bằng mực đen cho bản thảo Truyện Kiều. Các trứ tác riêng của ông gồm có: Sứ Yên thi tập, Cung oán thi, Ngô tộc truy viễn đàn ký và Lan Trì kiến văn lục; ngoài ra còn tham gia hợp soạn Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh và Ngô tộc truy viễn đàn phả.

Tiểu mục thứ hai phân tích tập truyện Lan Trì kiến văn lục, được sáng tác trong thời gian Vũ Trinh lui về ở ẩn tại Hồ Sơn (Nam Định) vào khoảng các năm 1793 - 1794. Tác phẩm gồm 3 quyển, 45 truyện ngắn, ghi chép những điều tác giả nghe và thấy nơi thôn dã, phố thị kết hợp cùng sự chiêm nghiệm thế sự. Khóa luận dẫn chứng nhận định của Ngô Thì Hoàng (Tựa 1), Tín Như Thị (Tựa 2), Trần Danh Lưu (Tựa 3) và Nguyễn Huệ Chi để khẳng định tác phẩm tuy ghi lại chuyện quái dị nhưng hướng tới mục đích cảnh tỉnh nhân tâm, phản ánh xã hội đạo đức suy đồi và ngợi ca phẩm giá con người.

Tiểu mục thứ ba trình bày cơ sở lý luận về trào lưu chủ tình thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX. Khóa luận chỉ ra rằng trào lưu này phản ánh sự vận động nội sinh của xã hội, đánh dấu bước chuyển từ văn học giáo huấn sang văn học biểu hiện cảm xúc riêng tư của con người tự nhiên. Biểu hiện của trào lưu bao quát qua:

  • Quan niệm con người: Đề cao mẫu nhân vật sống thật với bản năng xúc cảm, không che giấu nỗi đau và khát vọng lứa đôi (tiếng khóc trong thơ khóc vợ của Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du, văn tế của Phạm Thái, thơ Hồ Xuân Hương, tinh thần ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ).
  • Thể loại văn học: Sự thăng hoa của các thể loại mang đậm tính trữ tình như ngâm khúc (Chinh phụ ngâm), truyện thơ Nôm (Truyện Kiều, Hoa Tiên), hát nói và văn xuôi tự sự thế tục (Sơn cư tạp thuật).
  • Quan niệm nghệ thuật: Khẳng định văn chương phải có tình, tính linh chân thực (quan điểm của Lê Quý Đôn về "Tình - Cảnh - Sự", Cao Bá Quát về "tính linh").

Chương 2: Chủ tình trong tác phẩm Lan Trì kiến văn lục

Nội dung trọng tâm của khóa luận nằm ở chương này, được chia thành hai mảng lớn: quan niệm nghệ thuật và bút pháp thể hiện.

1. Chủ tình qua quan niệm nghệ thuật về con người, cuộc sống

Sự trân trọng ngợi ca tình nghĩa:

  • Tình nghĩa con người: Tác phẩm dành vị trí trung tâm để biểu dương tình yêu nam nữ chân chính, vượt qua định kiến sang hèn và rào cản lễ giáo. Trong truyện Sống lại, tình yêu chung thủy giữa Đào Sinh và cô gái dệt vải đã tạo nên kỳ tích đưa người yêu từ cõi chết trở về. Truyện Ca kĩ họ Nguyễn khắc họa người kỹ nữ đoan chính, yêu thương vị tha và chủ động đối với danh sĩ Vũ Khâm Lân. Truyện Thanh Trì tình trái mô tả mối tình oan trái giữa con gái phú ông và chàng lái đò nghèo, kết tinh thành khối đá đỏ sắc son trong ngực cô gái chỉ tan biến khi nhận giọt nước mắt hối hận của người yêu (chi tiết này được Nguyễn Du mượn làm điển tích trong Truyện Kiều). Truyện Tháp Báo Ân và Phu nhân Lan quận công khẳng định hạnh phúc đích thực được xây đắp bằng sự chân thành, không màng danh lợi. Về đạo nghĩa phu thê, truyện Người con gái trinh liệt ở Cổ Châu và Người đàn bà trinh tiết ở Thạch Hán ngợi ca lòng chung thủy, tiết liệt. Về tình mẫu tử, truyện Đẻ lạ ghi lại hình ảnh đầy ám ảnh về người mẹ nghèo chết chôn vội ngoài đồng vẫn sinh con dưới mồ và hiện hồn mua bánh nuôi con. Tác giả cũng biểu lộ lòng nhân ái sâu sắc đối với các số phận bất hạnh, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (Liên Hồ quận công, Đứa con của rắn, Nhớ kiếp trước).
  • Tình nghĩa của loài vật: Tác giả xây dựng thế giới động vật mang bản tính người, biết giữ trọn ân nghĩa. Nổi bật là hình tượng con hổ trong các thiên truyện: Con hổ có nghĩa (hổ đực tìm bà đỡ Trần cứu hổ cái sinh nở rồi trả ơn bằng mười lạng bạc trắng; hổ trán trắng được bác tiều phu móc xương bò mắc họng đã mang thú rừng trả ơn và đến phủ phục bên mộ khi bác tiều qua đời); Con hổ hào hiệp (hổ cứu đứa trẻ bị cha ruột vứt bỏ, đồng thời đóng vai trò trừng trị kẻ bất nhân); Con hổ nhân đức (hổ biết rỏ nước mắt và ghi nhớ ân tình cứu mạng). Bên cạnh đó, truyện Cá thần mượn hình ảnh cá lớn cứu người buôn lành gặp nạn trên biển để khẳng định quy luật nhân quả, thiện ác hữu báo.

Sự lên án thói phụ tình, bạc nghĩa: Song hành cùng việc ngợi ca tình nghĩa, ngòi bút Vũ Trinh nghiêm khắc lên án các hành vi tàn bạo, mất nhân tính: thói tham lam chiếm đoạt gia tài đẩy người em vào cảnh bần cùng (Tiên ăn mày); dục vọng thấp hèn, lạm dụng uy quyền quấy nhiễu dân lành (Khỉ); sự nhẫn tâm mất hết thiên tính của người cha đem vứt con ruột vào rừng để lấy vợ kế (Con hổ hào hiệp); thói ghen tuông vũ phu dẫn đến sát hại vợ (Sống lại). Tác giả vận dụng giáo lý luân hồi và nhân quả của đạo Phật trong truyện Nhớ ba kiếp (kẻ bất nghĩa bị đày thành kiếp gà, kiếp lợn rồi mới được trở lại kiếp người) nhằm răn dạy đạo lý làm người và thức tỉnh lương tri xã hội.

2. Chủ tình qua bút pháp nghệ thuật

  • Sự kết hợp giữa bút pháp kì ảo với bút pháp hiện thực: Yếu tố kỳ ảo trong tác phẩm không tách rời hiện thực mà trở thành phương tiện chuyên chở nội dung xã hội sâu sắc. Không gian nghệ thuật mở rộng ra bốn cõi (trần thế, thiên tào, địa ngục, giấc mơ); thời gian nghệ thuật mang tính phi tuyến tính, co giãn linh hoạt. Tính chân thực của truyện kể được củng cố bằng các địa danh, thời điểm và sự kiện lịch sử xác thực: truyện Dốc đầu sấm ghi rõ năm Kỷ Mùi 1739 niên hiệu Vĩnh Hựu tại Cẩm Giàng, phản ánh cuộc khởi nghĩa nông dân Bắc Hà năm 1740; truyện Thần Cửa Cờn gắn với đền Cửa Cờn (Nghệ An) và trận Nhai Sơn năm 1279; truyện Trạng nguyên họ Nguyễn ghi chép về Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo đỗ khoa Quý Hợi 1683; hiện tượng Đá nổi tháng 7 năm Mậu Tuất (1778) tại Sơn Nam do chính cha tác giả giữ chức Án sát tâu trình. Ngoài ra, tác giả sử dụng các nhân chứng có thật như Triệu Lĩnh bá Trần Danh Đương (Cá thần), tri huyện Hoàng Xuân Viên (Con giải), huấn đạo Nguyễn Quyền (Đứa con của rắn). Yếu tố kỳ ảo (ma trơi, ma cổ thụ, tái sinh, điềm báo mộng) được khai thác từ triết thuyết Phật giáo, Lão Trang và tín ngưỡng dân gian nhằm giải tỏa những ẩn ức thế sự và bộc lộ mộng tưởng nhân sinh.
  • Sự gia tăng tính chất ngụ ngôn: Vũ Trinh sử dụng triệt để thủ pháp nhân hóa loài vật (hổ, khỉ, cá, giải, rắn) mang tính phúng dụ đạo đức sâu sắc. Cấu trúc truyện ngắn gọn, cô đọng, bài học nhân sinh tự phát lộ qua hành động nhân vật nhằm chế giễu cái ác, khuếch đại cái thiện, thực hiện chức năng thanh lọc tâm hồn và hướng thiện.

Bảng tổng hợp dưới đây khái quát các phương diện biểu hiện của đặc điểm chủ tình trong văn bản tác phẩm:

Phương diện khảo sát Biểu hiện cụ thể trong tác phẩm Tác phẩm tiêu biểu Ý nghĩa tư tưởng và nghệ thuật
Tình nghĩa con người Tình yêu đôi lứa vượt định kiến; lòng chung thủy phu thê; đức hy sinh mẫu tử; lòng trắc ẩn với số phận cơ hàn. Sống lại, Ca kĩ họ Nguyễn, Thanh Trì tình trái, Tháp Báo Ân, Đẻ lạ, Liên Hồ quận công. Giải phóng nhu cầu cảm xúc tự nhiên; khẳng định quyền sống và hạnh phúc lứa đôi; đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ và trẻ em.
Tình nghĩa loài vật Nhân hóa loài vật mang tính cách, hành động của con người; biết trả ơn cứu mạng, phân biệt thiện ác. Con hổ có nghĩa, Con hổ hào hiệp, Con hổ nhân đức, Cá thần. Dùng tính nghĩa của loài vật để thức tỉnh nhân tính; khẳng định quy luật nhân quả "ở hiền gặp lành".
Phê phán bội nghĩa Lên án tội ác vô luân: cha giết con, chồng giết vợ, anh cướp gia tài em, kẻ quyền thế hoang dâm. Con hổ hào hiệp, Sống lại, Tiên ăn mày, Khỉ, Nhớ ba kiếp. Cảnh báo sự tha hóa đạo đức xã hội; mượn thuyết luân hồi Phật giáo để thiết lập trật tự công lý nhân văn.
Bút pháp kì - thực Lồng ghép nhân vật, địa danh, niên đại có thật với các yếu tố kỳ ảo (hồn ma, tái sinh, mộng triệu). Dốc đầu sấm, Thần Cửa Cờn, Trạng nguyên họ Nguyễn, Đá nổi, Tháp Báo Ân. Tăng sức thuyết phục cho truyện kể; biến cái kỳ ảo thành phương tiện phản ánh hiện thực và giải tỏa ẩn ức nội tâm.
Tính chất ngụ ngôn Cốt truyện vắn tắt, tình tiết giàu phúng dụ; mượn chuyện loài vật răn dạy việc đời. Khỉ, Con hổ có nghĩa, Rắn thiêng, Con giải. Gia tăng chức năng giáo huấn đạo đức bằng con đường tình cảm; kết tinh triết lý nhân sinh dân gian.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã khảo sát toàn diện 45 thiên truyện trong 3 quyển của Lan Trì kiến văn lục, hệ thống hóa và chứng minh một cách tường minh đặc điểm chủ tình của tác phẩm trên cả hai trục nội dung tư tưởng và hình thức biểu đạt nghệ thuật. Khóa luận đưa ra các bằng chứng văn bản cụ thể xác nhận sự dịch chuyển từ quan niệm văn học "tải đạo, ngôn chí" quy phạm sang tinh thần chủ tình đề cao đời sống nội tâm, cảm xúc trần thế của con người.

Về đóng góp khoa học, công trình đạt được các điểm mới sau:

  • So với các nghiên cứu trước đây (như khóa luận của Nguyễn Thị Trang về nội dung - nghệ thuật chung, luận văn của Nguyễn Thị Hoàng Thu về nhân vật, luận văn của Trương Thị Hoa về loại hình nhân vật truyền kỳ qua ba tác phẩm), khóa luận này là công trình đầu tiên đi sâu khảo sát chuyên biệt tác phẩm Lan Trì kiến văn lục từ góc độ trào lưu chủ tình theo khung lý thuyết của GS.TS. Trần Nho Thìn.
  • Khóa luận làm rõ tính chất giao thời đặc biệt của tác phẩm: vừa kế thừa mô thức truyền kỳ trung đại, vừa mang đậm cảm quan thế tục của văn xuôi cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX.
  • Đề tài chỉ ra mối liên hệ văn học sử có giá trị giữa Vũ Trinh và Nguyễn Du thông qua chi tiết bình phẩm bản thảo Truyện Kiều và việc Nguyễn Du tiếp thu cốt truyện Thanh Trì tình trái để sáng tạo hình tượng khối tình trong kiệt tác truyện thơ Nôm của dân tộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thẳng thắn ghi nhận những hạn chế do điều kiện thời gian và năng lực của tác giả ở cấp độ đại học:

  • Khóa luận chủ yếu khảo sát văn bản qua bản dịch ngữ văn hiện hành, chưa có điều kiện khảo dị và đối chiếu văn bản học trực tiếp trên các bản khắc in chữ Hán nguyên tác của Lan Trì kiến văn lục.
  • Phạm vi so sánh chủ yếu giới hạn trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVII - XIX, chưa mở rộng đối sánh tác phẩm của Vũ Trinh với các tập truyện truyền kỳ chữ Hán cùng thời kỳ trong khu vực văn hóa Á Đông (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản).

Hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai bao gồm:

  • Tiến hành nghiên cứu đối chiếu thi pháp văn xuôi tự sự chữ Hán giữa Lan Trì kiến văn lục và các tác phẩm ký, truyền kỳ lân cận như Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục.
  • Nghiên cứu sâu hơn về đặc trưng ngôn ngữ, phong cách nghệ thuật ngắn gọn, hàm súc của Vũ Trinh dưới góc độ thi pháp học hiện đại và văn bản học chữ Hán.
  • Thiết kế các chuyên đề dạy học thực nghiệm tác phẩm trong chương trình Ngữ văn ở trường trung học phổ thông và đại học sư phạm.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên và sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn, ngành Văn học tại các trường đại học: cung cấp hệ thống luận điểm, dẫn chứng chi tiết và cấu trúc phân tích chuẩn mực về một tác giả văn xuôi trung đại giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX.
  • Người làm đề tài nghiên cứu về văn học trung đại Việt Nam, thể loại truyện truyền kỳ chữ Hán và các hiện tượng tư tưởng văn học giao thời.
  • Phần đáng tham khảo nhất của công trình là Chương 2 với hệ thống phân tích dẫn chứng phong phú, bóc tách cụ thể các biểu hiện của chữ "Tình" qua 45 truyện ngắn, cùng thao tác chứng minh sự dung hợp giữa chi tiết hiện thực xác thực lịch sử và kỹ thuật hư cấu kỳ ảo.

Câu hỏi thường gặp

1. Mối quan hệ thân tộc và học thuật cụ thể giữa tác giả Vũ Trinh và đại thi hào Nguyễn Du là gì? Về thân tộc, Vũ Trinh kết duyên cùng con gái của Đại tư đồ Tham tụng Nguyễn Nghiễm; người vợ này là chị cùng mẹ với Nguyễn Du. Về học thuật, Vũ Trinh là người đầu tiên được Nguyễn Du tin tưởng trao đọc và viết lời bình mực đen bằng chữ Hán ngay trên bản thảo Truyện Kiều. Ngoài ra, câu thơ nổi tiếng trong Truyện Kiều: "Nợ tình chưa trả cho ai / Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan" được Nguyễn Du lấy tích từ thiên truyện Thanh Trì tình trái trong Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh.

2. Khái niệm "trào lưu chủ tình" được khóa luận định nghĩa trên cơ sở công trình lý thuyết nào và có nội hàm ra sao? Khái niệm "trào lưu chủ tình" được tác giả khóa luận tiếp thu trực tiếp từ đề tài nghiên cứu "Trào lưu chủ tình trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và dấu vết ảnh hưởng của sách Thế thuyết tân ngữ" của GS.TS. Trần Nho Thìn. Nội hàm khái niệm dùng để định danh xu hướng văn học chiếm vị trí nổi bật giai đoạn này, chủ trương đề cao Tình (emotions) – tức thiên về cảm xúc tự nhiên (hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục) không bị kiềm chế bởi lý trí đạo đức Nho giáo, hướng sự quan tâm vào con người trần thế, đời thường ("trị nội") thay vì con người nghĩa vụ xã hội ("trị ngoại").

3. Yếu tố hiện thực trong tác phẩm được củng cố bằng những cứ liệu lịch sử và nhân chứng xác thực nào? Văn bản đưa ra hàng loạt địa danh, niên đại và nhân vật có thật: truyện Dốc đầu sấm ghi rõ niên hiệu Vĩnh Hựu năm Kỷ Mùi (1739) tại huyện Cẩm Giàng phản ánh phong trào khởi nghĩa nông dân 1740; truyện Thần Cửa Cờn nhắc địa danh đền Cửa Cờn (Nghệ An) và trận Nhai Sơn (1279); truyện Trạng nguyên họ Nguyễn ghi rõ họ tên danh sĩ Nguyễn Đăng Đạo đỗ Trạng nguyên năm Chính Hòa 1683; hiện tượng Đá nổi tháng 7 năm Mậu Tuất (1778) tại lộ Sơn Nam do chính cha tác giả giữ chức Án sát tâu trình. Tác giả cũng viện dẫn các nhân chứng đương thời như Triệu Lĩnh bá Trần Danh Đương (Cá thần), tri huyện Hoàng Xuân Viên (Con giải), huấn đạo Nguyễn Quyền (Đứa con của rắn).

4. Hình tượng loài vật trong tác phẩm biểu đạt đặc điểm chủ tình như thế nào? Loài vật, đặc biệt là loài hổ (Con hổ có nghĩa, Con hổ hào hiệp, Con hổ nhân đức) và cá (Cá thần), được Vũ Trinh nhân hóa mang bản tính người sâu sắc: biết rung động, thương xót, nhỏ lệ, biết ghi nhớ ơn nghĩa cứu mạng và đền đáp trọn vẹn bằng bạc trắng, con mồi, hoặc bảo vệ mộ phần ân nhân. Hình tượng con vật sống có nghĩa tình được tác giả đặt trong tương quan đối lập với những kẻ tha hóa nhân tính, từ đó mượn chuyện loài vật để răn dạy, giáo huấn đạo đức nhân sinh cho con người bằng con đường tình cảm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Hồng Nhung đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu khi làm rõ đặc điểm chủ tình trong tập truyện Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh dưới góc độ quan niệm con người và bút pháp nghệ thuật. Dựa trên khung lý thuyết của GS.TS. Trần Nho Thìn và các nhà nghiên cứu văn học trung đại, công trình đã chứng minh tác phẩm là đại biểu tiêu biểu cho xu hướng văn xuôi tự sự thế tục giai đoạn thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX. Khóa luận cung cấp nguồn tư liệu học thuật có hệ thống, giàu tính xác thực, phục vụ thiết thực cho công tác nghiên cứu văn học sử và giảng dạy tác phẩm văn học trung đại trong nhà trường.