Chương 1: Khái quát về thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh Chương 2: Qúa trình thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh (2001 - 2015) Chương 3: Đánh giá cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh (2001 - 2015) 8 Bản đồ hành chính thành phố Cẩm Phả Nguồn: http://www.vn 9 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH 1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên Thời trước, Cẩm Phả là một xã trong tổng Hà Môn thuộc châu Tiên Yên. Đó là một nơi rộng rãi (Phổ, Phả) và đẹp như gấm vóc (Cẩm) mà thành tên.
Năm 1831, Vua Minh Mạng tách Cẩm Phả thành một tổng thuộc huyện Hoành Bồ, gồm 5 phố: Hạ Lâm (Hà Lầm), Núi Trọc, Ngã Hai, Mông Dương, Vạn Hoa và 3 xã: Cẩm Phả, Đại Lộc, Quang Hanh. Năm 1936, chính quyền thực dân phong kiến tách 3 tổng: Cẩm Phả, Hà Gián, Vân Hải thành lập châu Hà Tu; năm 1940 đổi thành châu Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Yên, bao gồm: Phố Mới, Phố Cũ, Núi Trọc, Cửa Ông và các xã: Quang Hanh, Cẩm Bình, Thi Đua (sau đổi thành xã Thắng Lợi), Độc Lập (sau đổi thành xã Hùng Thắng) và các xã thuộc huyện Cẩm Phả (huyện Vân Đồn ngày nay). Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Cửa Ông được tách khỏi châu Cẩm Phả trở thành đơn vị hành chính độc lập; lúc này Cẩm Phả và Cửa Ông trực thuộc khu đặc biệt Hòn Gai. Năm 1946, châu Cẩm Phả thuộc Khu đặc biệt Hòn Gai; Cửa Ông lại được sáp nhập vào tỉnh Quảng Yên.
Tháng 12/1948, cùng với việc chia Liên tỉnh Quảng Hồng thành tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hòn Gai trực thuộc Liên khu I, Ủy ban Kháng chíến Hành chính Liên khu I quyết định tách một số xã ven châu Cẩm Phả để thành lập huyện Cẩm Phả trực thuộc Đặc khu Hồng Gai. Năm 1949, châu Cẩm Phả trực thuộc Đặc khu Hồng gai (tương đương cấp tỉnh). Năm 1950, xã Hùng Thắng được tách khỏi châu Cẩm Phả nhập vào thị xã Hồng Gai. Ngày 22/2/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập khu Hồng Quảng bao gồm đặc khu Hồng Gai và tỉnh Quảng Yên.
Thị xã Cẩm Phả và thị xã Cửa Ông đều trực thuộc khu Hồng Quảng. Cuối năm 1956, thị xã Cửa Ông lại được sáp nhập vào thị xã Cẩm Phả. 10 Ngày 10/9/1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 63/HĐBT về việc phân vạch địa giới một số xã, phường và thị trấn thuộc tỉnh Quảng Ninh. Theo đó, tại thị xã Cẩm Phả: Giải thể thị trấn Mông Dương để thành lập phường Mông Dương và xã Cẩm Hải; giải thể thị trấn Cửa Ông để thành lập phường Cửa Ông (trừ phần đất của phân khu 6 cắt cho xã Thái Bình); giải thể thị trấn Cọc 6 và xã Thái Bình để thành lập hai phường Cẩm Phú và Cẩm Thịnh.
Ngày 6/1/2005, theo Quyết định số 13-QĐ-BXD của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, thị xã Cẩm Phả được công nhận là đô thị loại III. Ngày 21/2/2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 04/NQ-CP về việc thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Cẩm Phả. Ngày 17/4/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 505/QĐ- TTg về việc công nhận thành phố Cẩm Phả là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Ninh. Tính đến thời điểm năm 2015, thành phố Cẩm Phả có 16 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 13 phường: Cẩm Bình, Cẩm Đông, Cẩm Phú, Cẩm Sơn, Cẩm Tây, Cẩm Thạch, Cẩm Thành, Cẩm Thịnh, Cẩm Thủy, Cẩm Trung, Cửa Ông, Mông Dương, Quang Hanh và 3 xã: Cẩm Hải, Cộng Hòa, Dương Huy.
Thành phố Cẩm Phả có toạ độ từ 20°58’10’’ đến 21°12’ vĩ Bắc, 107 °10’ đến 107°23’50’’ kinh Đông, cách thành phố Hạ Long 30km; phía bắc giáp huyện Ba Chẽ, phía đông giáp huyện Vân Đồn, phía tây giáp huyện Hoành Bồ và thành phố Hạ Long, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ. Vùng vịnh thuộc Thành phố là vịnh Bái Tử Long. Cẩm Phả có vị trí quan trọng về quốc phòng - an ninh, là tuyến phòng thủ phía Đông Bắc của Tổ quốc, nằm trong vùng động lực phát triển miền Bắc, là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh Quảng Ninh với các tuyến đường bộ, đường thuỷ, cảng biển thuận tiện cho giao thông. Thành phố Cẩm Phả có diện tích tự nhiên 486 km2, trong đó diện tích đất liền là 343 km2.
Địa hình phần lớn là đồi núi, chiếm 55,4% tổng diện tích, vùng trung du 16,29%, đồng bằng 15,01% và vùng biển chiếm 13,3%. Ngoài biển là hàng trăm hòn đảo nhỏ, hầu hết là đảo đá vôi. 11 Thành phố Cẩm Phả có nhiệt độ trung bình năm 23°C, độ ẩm trung bình 84,6%, lượng mưa hằng năm 2.307mm, mùa đông thường có sương mù. Thành phố Cẩm Phả chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa và ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu biển.
Theo số liệu của Trạm Khí tượng thủy văn Quảng Ninh, khí hậu thành phố Cẩm Phả được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Sông ngòi ở Cẩm Phả phụ thuộc vào chế độ thủy văn của các con sông chính là sông Diễn Vọng, sông Mông Dương, sông Đồng Mỏ; các con sông này đều ngắn, nhỏ và dốc. Ngoài các con sông chính, chảy qua địa bàn thành phố Cẩm Phả và địa phận các xã ven biển còn có sông Voi Lớn, sông Voi Bé, sông Thác Thầy. Với vị trí nằm ở cửa ngõ phía Đông của tỉnh Quảng Ninh, thành phố Cẩm Phả là đầu mối giao thông, giao thương quan trọng với các địa phương lân cận và biên giới Việt Nam - Trung Quốc.
Thành phố Cẩm Phả nằm cách Thủ đô Hà Nội khoảng 180 km, cách thành phố Hải Phòng khoảng 100 km về phía đông bắc và cách trung tâm thành phố Hạ Long khoảng 30 km. Thành phố Cẩm Phả có 2 trục giao thông chính. Trục giao thông thứ nhất là Quốc lộ 18 từ Đèo Bụt (nằm giữa Hạ Long và Cẩm Phả) đến Cầu Ba Chẽ (nằm giữa Cẩm Phả và Tiên Yên). Trục giao thông thứ hai là đường nội thành kéo dài từ phường Cẩm Thạch tới phường Cẩm Đông, song song với trục giao thông thứ nhất.
Ngoài ra còn có Đường 326, thường gọi là Đường 18B, từ Ngã Hai đến Mông Dương dài 25 km, chủ yếu dùng cho lâm nghiệp và vận tải mỏ. Tuyến xe buýt Quảng Ninh 01 chạy xuyên suốt nội thành Cẩm Phả. Cẩm Phả còn có đường sắt dùng để vận chuyển than. Ngoài cảng Cửa Ông phục vụ các tàu lớn, chủ yếu là tàu than và các bến tàu nhỏ phục vụ cho du lịch, tham quan vịnh Bái Tử Long, thành phố Cẩm Phả có hệ thống cảng biển chuyên dụng như: Cảng Cẩm Phả và bến tổng hợp phục vụ chủ yếu cho công nghiệp khai thác than và một số cơ sở công nghiệp tập trung khác trong khu vực; cảng Hòn Nét có khả năng tiếp nhận tàu 70.000DWT; bến xi măng Cẩm Phả, cảng Cẩm Phả, mạng lưới băng tải, xà lan và các tuyến 12 đường dành riêng cho xe tải chở than… cùng hệ thống cảng nội địa và đường thủy nội bộ rất thuận tiện cho việc giao thông đối nội, đối ngoại.
Cẩm Phả được xác định là đô thị phát triển công nghiệp, dịch vụ theo hướng hiện đại, bền vững với môi trường và có vị trí đặc biệt về quốc phòng, an ninh nằm trong hệ thống phòng thủ phía Đông Bắc của Tổ quốc. Đây là những điều kiện thuận lợi để Cẩm Phả thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng đô thị và có những bước tiến dài, vững chắc trên hành trình đô thị hóa. Tài nguyên thiên nhiên - Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên lớn nhất ở Cẩm Phả là than đá. Tổng tiềm năng khoảng trên 3 tỉ tấn, trữ lượng có thể khai thác 2,5 tỉ tấn (trong tổng số 8,4 tỉ tấn trữ lượng than Quảng Ninh).
Mật độ chứa than trong khối kiến trúc mỏ có hệ số cao nhất, nhiều vỉa dầy, chất lượng than tốt. Sản lượng khai thác than trên địa bàn Cẩm Phả chiếm khoảng 50 - 55% sản lượng than toàn quốc. Cẩm Phả có hệ thống cảng biển tương đối hoàn chỉnh trong đó có một cảng nước sâu tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu than. Sản lượng than sạch tăng từ năm 2010 đến năm 2011, nhưng sau đó giảm dần còn 16,2 triệu tấn vào năm 2012 và 15,2 triệu tấn vào năm 2013.
Cẩm Phả có hệ thống đường sắt dùng chuyên chở than chạy dọc Thành phố đến Nhà máy tuyển than Cửa Ông. Các mỏ Cọc Sáu, Ðèo Nai, Cao Sơn, Mông Dương, Khe Chàm, Dương Huy, Thống Nhất đều là những mỏ than lớn của thành phố Cẩm Phả. Ngoài than, Cẩm Phả còn có antimoan ở Khe Chim - Dương Huy, đá vôi ở Quang Hanh, nước khoáng ở Quang Hanh đều là những tài nguyên quý. Vùng núi đá vôi ở Cẩm Phả là nguồn nguyên liệu dồi dào cho việc phát triển các ngành sản xuất xi măng, nhiệt điện và vật liệu xây dựng.
Nguồn tài nguyên đá vôi của Cẩm Phả tập trung chủ yếu trên địa bàn phường Quang Hanh. Đây là nguồn nguyên liệu chính cho sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng. Nhà máy Xi măng Cẩm Phả là nhà máy xi măng lớn nhất Việt Nam với công suất khoảng 2,3 triệu tấn/năm. 13 Bên cạnh tài nguyên về biển đảo, Cẩm Phả còn sở hữu nguồn nước khoáng quý hiếm.
Nguồn nước khoáng này bao gồm nguồn nước khoáng uống được và nguồn khoáng nóng phục vụ trị liệu và du lịch. - Tài nguyên đất: Tính đến hết năm 2000, Cẩm Phả có 15.015 ha đất nông, lâm nghiệp, thủy sản; trong đó đất nông nghiệp, khoảng 1.196ha; đất có mặt nước có thể nuôi trồng thuỷ sản là 315ha. Đất lâm nghiệp là 13.504ha, trong đó rừng tự nhiên là 12.094ha, đất có rừng trồng là 1. Tính đến hết năm 2014, tổng diện tích đất tự nhiên của toàn Thành phố là 34.322,72 ha, trong đó đất nông, lâm, nghiệp, thủy sản là 16.732,56 ha (chiếm 48,75%); đất chưa sử dụng là 9767.
- Tài nguyên rừng: Theo kết quả thống kê đất đai ngày 1/1/2014, diện tích đất lâm nghiệp của Thành phố là 21.197,60 ha; chiếm 93,74% diện tích đất tự nhiên; tỉ lệ che phủ của rừng là 62,73%; trong đó đất rừng sản xuất là 18.971,42 ha và đất rừng phòng hộ là 2.226,18 ha, tập trung chủ yếu ở các phường Mông Dương, Quang Hanh và các xã Cộng Hòa, Cẩm Hải, Dương Huy.