Chương 1 CỘNG ĐÒNG CÔNG GIÁO TỈNH BẮC NINH 1. Vài nét về tỉnh Bắc Ninh 1. Đặc điểm địa lý - kinh tế - Về đặc điểm địa lý, Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong vùng châu thổ sông Hồng, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội — Hải Phòng — Quang Ninh. Bắc Ninh có vị trí địa lý nằm giữa 21° và 215 vĩ độ Bắc, 105°45 và 106°15 Kinh Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và một phần Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương và phía Tây giáp thủ đô Hà Nội.
Theo số liệu thống kê năm 2007, tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên là 823 km” với tổng số dân là 1,029 triệu người [44]. Bắc Ninh ở vào vị trí khí hậu có tính đa dạng của chế độ hoàn lưu gió mùa nhiệt đới phức tạp. Nhiệt độ bình quân hang năm là 23,50°c. Lượng mưa tập trung từ thang 6 đến tháng 8 hàng năm.
Gió Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9. Toàn bộ vùng đất Bắc Ninh nhận được nhiều bức xạ mặt trời, do đó cây lúa, hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả phát triển tốt. Bắc Ninh là tỉnh nghèo khoáng sản, chủ yếu là nguồn nguyên liệu phục vụ trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng: đất sét làm gạch ngói, đất sét làm gạch chiu lửa, đá sa thạch và than bùn. Tài nguyên rừng chủ yếu là rừng trồng với tong diện tích là 661,26 ha phân bồ tập trung ở hai huyện Qué Võ và Tiên Du.
Nhìn từ vệ tinh, tỉnh Bắc Ninh nằm ở phía Bắc của đồng bang châu thổ sông Hong, địa hình tương đối bằng phăng, được ngăn cách với vùng trung du miễn núi phía bắc bởi hệ thống sông Cầu. Ngoài ra Bắc Ninh còn có hai hệ thống sông lớn là sông Thái Bình và sông Đuống. Hệ thống sông ngòi đã tạo nên một mạng lưới vận tải đường thủy quan trọng, kết nối các địa phương trong tinh và nối liền Bắc Ninh với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Hồng. Ngoài ra, chúng còn tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư trong tỉnh.
Ngoài các trục đường giao thông tỉnh lộ, Bắc Ninh có hơn 100 km đường quốc lộ 1A, 1B, 18, 36, tuyến đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn, đó là những thuận lợi rất cơ bản của Bắc Ninh cho sự gặp gỡ giao lưu kinh tế văn hóa với các tỉnh bạn, nhất là phải kế đến vùng tam giác năng động Hà Nội — Hải Phong — Quảng Ninh. - Về đặc điểm kinh tế, Bắc Ninh là tỉnh nằm trong tam giác kinh tế năng động dọc Hà Nội — Quang Ninh với nhiều thế mạnh về giao thông, đội ngũ lao động có trình độ khá, rất đa ngành với nhiều làng nghề truyền thống. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt 23.000 tỷ đồng, tăng bình quân 27,9%/năm đưa công nghiệp Bắc Ninh từ vị trí thứ 19 (năm 2004) lên vị trí thứ 9 (năm 2010) trong toàn quốc. Sản phẩm công nghệ cao tăng lên, thị trường xuất khâu được mở rộng, sản phâm công nghiệp chiếm 98% tông kim ngạch xuất khâu.
Hình thành sản phẩm chủ lực có khả năng cạnh tranh như: thức ăn gia súc, gỗ, kính, thiết bị điện, điện tử, thiết bị thông tin liên lạc. Khu vực có vốn đầu từ nước ngoai tăng cao, toàn tỉnh có 15 khu công nghiệp tập trung, tông diện tích 7.525 ha, trong đó 10 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Hình thành khu công nghiệp — đô thị hiện đại, thu hút đầu tư từ các tập đoàn kinh tế đa quốc gia như: Canon, Samsung, ABB,. Nhiều doanh nghiệp công nghệ cao đi vào hoạt động, tao ra những sản phẩm công nghệ cao, có lợi thé cạnh tranh và góp phần chuyền dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tích cực.
Bắc Ninh là tỉnh đầu tiên của cả nước triển khai khu công nghiệp hỗ trợ. Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng, cảnh quan, môi trường, kiến trúc đô thị được thay đôi đáng kể. Mặc dù công nghiệp của tỉnh có nhiều phát triển, song về cơ bản, Bắc Ninh vẫn là một tỉnh nông nghiệp, địa hình gồm 2 vùng (đồng bằng, trung du) đã tạo cho sản xuất nông nghiệp mang tính đa dạng và rất phong phú. Ngoài lúa, Bắc Ninh có thế mạnh và tiềm năng phát triển về cây ăn quả và rau màu.
Hơn nữa, ngoài những cây trồng nhiệt đới, lại có thể trồng nhiều cây ôn đới. Nhiều nông phẩm đã thành thương hiệu như: gạo Tám Từ Sơn, cam sành Bồ Ha, gà Đông Ho. Bắc Ninh có làng nghề thủ công phát triển rộng khắp, trong toàn tỉnh, hầu như huyện nào cũng có, nỗi tiếng với những nghề cô truyền như: Gốm Thổ Hà, gốm Phôi Lãng, đúc Đồng Dai Bái, nghề chạm trổ, nghề mộc Từ Sơn. Nghé thêu đã trở thành một nghệ thuật, một nghề tinh xảo.
Các nghề dệt thêu, dệt day, làm đồ mỹ nghệ, gò đồng, rèn sắt, làm khung xe. ngày càng được trang bị thêm máy móc hiện dai, kỹ thuật tiên tiến, và có thêm nhiều mặt hàng mới phục vụ đời sống nhân dân và xuất khẩu. Qua 25 năm đôi mới, đời sống kinh tế nhân dân Bắc Ninh ngày nay đã được nâng lên rõ rệt, hộ giàu, khá, chiếm hơn 50%, hộ đói, nghèo được giảm đáng kể. Bộ mặt nông thôn được đổi mới, hầu hết các đường làng, xã đều được bê tông hóa, đi lại rất thuận tiện.
Nhìn chung, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh không ngừng được cải thiện và phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện. Đặc điểm lịch sử - văn hóa Người ta biết đến Bắc Ninh không chỉ là nơi có điều kiện tự nhiên và nền kinh tế trù phú mà còn bởi bề dày lich sử và truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc, gan liền với tiến trình lich sử của dân tộc ngay từ thuở ban đầu dựng nước. Thành Cé Loa (thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh trước đây) chính là kinh đô, thành quach đầu tiên nồi tiếng trong lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với tên tuổi của An Dương Vương. Từ nền móng đó, trải qua các chặng đường lịch sử đã bồi đắp cho Bắc Ninh một bề dày truyền thống văn hóa lâu đời là thành tích lớn nhất của con người nơi đây.
Bắc Ninh thời Việt cổ gọi là Bộ Vũ Ninh trải qua nghìn năm nô thuộc nhà Tan, Hán, Tan, Đường đến thời Tiền Lê, Lý, Trần cho đến thời Hậu Lê, sắp xếp hành chính qua các triều đại có thay đôi phát triển: đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán thuộc đất Long Biên, Luy Lâu quận Giao Chỉ; đời Ngô là Ly Sở nơi quan lại đóng của quận Giao Châu; đời Nam Tan là châu Vũ Ninh; đầu đời Đường là đất 3 huyện Vũ Ninh, Bình Lạc cũng bỏ Long Biên, Xương Quá quy thuộc vào An Nam đô hộ Phủ. Đời Tiền Lê là Bắc Giang còn gọi là Lộ Kinh Bắc. Thời thuộc Minh là 2 phủ Bắc Giang, Lạng Giang. Từ năm Gia Long thứ nhất đời Nguyễn (1820) gọi là Tran Kinh Bắc, năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi là Tran Bắc Ninh, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đổi thành tỉnh Bắc Ninh quản lý 4 phủ, 2 phân phủ và 20 huyện [54, tr.
- Về lịch sử, qua các kết quả nghiên cứu, đặc biệt là khảo cô học ở Bắc Ninh cho thay đây là địa ban cư trú chủ yếu của người Việt cô, đồng thời là bộ phận cốt lõi của quốc gia Văn Lang — Au Lạc: “Từ mấy nghìn năm trước, người Việt cô đã cư trú lập làng ở ven Sông Cầu, Sông Dâu, Sông Đuống, Sông Ngũ Huyện Khê, Sông Tiên Vong. chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp kết hợp làm các nghề thủ công” [43, tr. Cũng trên mảnh đất này những giá trị tinh thần được phản ánh qua các huyền thoại về “ông Dung, bà Đà”; Ông Không 16 cán nát núi, húi sạch rừng, bung ngang lũ; về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương. cùng với các huyền thoại, truyền tích là đậm đặc các di tích tiêu biểu như Lăng mộ Kinh Dương Vương, các đền Thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, thủ phủ Luy Lâu (tức Long Biên) - nơi ghi dấu những chiến tích hào hùng chống quân xâm lược phương Bắc.
Luy Lâu là một huyện thuộc quận Giao chỉ, trụ sở của quận đóng ở đó là của Thái thú Sĩ Nhiếp còn di tích thành và đền thờ, mộ của ông thánh ở làng Lũng Khê, huyện Siêu Loại (nay là Thuận Thành). Luy Lâu là Trung tâm Phật giáo lớn và cô xưa của nước ta, nơi tập trung nhiều chùa Tháp với trung tâm là Chùa Pháp Vân (tức chùa Dâu) nỗi tiếng, gắn liền với truyền thuyết Man Nương. Xung quanh Luy Lâu là các làng nông nghiệp, làng thủ công, làng buôn bán phát trién mạnh mẽ. Luy Lâu cũng là một đô thị mang tính quốc tế.
Các hoạt động buôn bán, trao đôi ở Luy Lâu thời Bắc thuộc rất nhộn nhip và sam uất. Bước vào kỷ nguyên Đại Việt, Bắc Ninh trở thành phên dậu phía Bắc của kinh thành Thăng Long — Đông Đô, nơi đây tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trong trong cuộc bảo vệ đất nước và phát triển văn hóa Việt Nam. Miễn quê (địa linh) này là đất phật tích nhà Lý — triều đại khai mở nền văn minh Đại Việt gắn liền với tên tuổi những danh nhân lich sử - văn hóa kiệt xuất: Lý Công Uan, Lý Nhân Tông, Nguyên Phi Y Lan, Lê Văn Thịnh. Day là nơi vang vọng bài thơ Nam Quốc Son Hà — Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước của dân tộc, tỉnh Bắc Ninh luôn luôn giữ một vị trí chiến lược quan trọng là phên dậu, lá chắn phía Bắc của Kinh đô Thăng Long — Hà Nội. Trang sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, những chiến tích và truyền thống bảo vệ quê hương đất nước của nhân dân Bắc Ninh đã có từ thời Hùng Vương thứ 6 và trải qua các thời kỳ lịch sử đất nước chống giặc phương Bắc, chống thực dân Pháp và dé quốc Mỹ xâm lược. Từ đó hun đúc truyền thống yêu nước của các thế hệ nhân dân Bắc Ninh và đã sản sinh ra những chiến sĩ cách mạng, những chiến sĩ cộng sản tiền bối như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt. cùng với biết bao tắm gương tiêu biểu khác mà tên tuổi của họ không chỉ là niềm tự hào của nhân dân Bắc Ninh mà còn là niềm tự hào của nhân dân cả nước.