Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn các cơ sở chăm sóc trẻ em tại thành phố Hà Nội" thuộc chuyên ngành Công tác xã hội. Luận án giải quyết vấn đề chăm sóc, trợ giúp trẻ em mồ côi tại các cơ sở bảo trợ xã hội thông qua phương pháp công tác xã hội nhóm.

Về tính cấp thiết, trẻ em là đối tượng cần sự quan tâm đặc biệt nhằm phát triển hài hòa nhân cách trong môi trường gia đình như Lời nói đầu của Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 đã khẳng định. Tại Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016) và Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26/04/2013 của Thủ tướng Chính phủ đều xác định bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là nhiệm vụ an sinh xã hội trọng tâm. Theo số liệu thống kê được luận án trích dẫn, năm 2012 toàn quốc có gần 1,4 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bao gồm 256.000 trẻ em mồ côi và bị bỏ rơi, 280.000 trẻ khuyết tật nặng và nhiễm chất độc hóa học, 96.650 trẻ nhiễm HIV/AIDS, 600.000 trẻ bị tự kỷ, hội chứng Down, thiểu năng trí tuệ và 163.000 trẻ là nạn nhân của thiên tai. Đến tháng 12 năm 2018, cả nước có 26,3 triệu trẻ em, trong đó có 1,43 triệu trẻ có hoàn cảnh đặc biệt (chiếm 5,43%). Tại thành phố Hà Nội, trong tổng số 30 quận, huyện có hơn 836.000 trẻ em dưới 6 tuổi, 14.000 trẻ có hoàn cảnh đặc biệt và hơn 50.000 trẻ có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Thành phố có gần 120 cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng gần 1.000 trẻ em mồ côi (trong đó có khoảng 100 cơ sở nuôi dưỡng quy mô dưới 10 trẻ).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: Các cơ sở chăm sóc trẻ em tại Hà Nội hiện nay cơ bản đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt vật chất nền tảng (ăn, mặc, ở, học văn hóa), nhưng các em vẫn gặp nhiều khó khăn về tâm lý, tình cảm, giáo dục kỹ năng sống và định hướng nghề nghiệp. Hoạt động can thiệp bằng phương pháp công tác xã hội nhóm tại các cơ sở này còn hạn chế, chưa được vận dụng đồng bộ, khoa học và bài bản, mặc dù đây là phương pháp có khả năng giải quyết đồng thời vấn đề cho nhiều trẻ có chung hoàn cảnh và nhu cầu.

Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi, làm rõ thực trạng và các yếu tố tác động tới hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại các cơ sở chăm sóc trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội; từ đó thực nghiệm tiến trình và đề xuất các giải pháp cải thiện hoạt động này.

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 05 nhiệm vụ:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi;
  2. Mô tả, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi tại các cơ sở chăm sóc trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội;
  3. Phân tích, đánh giá những yếu tố tác động tới hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại các cơ sở chăm sóc trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội;
  4. Thực nghiệm tiến trình công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại các cơ sở chăm sóc trẻ em mồ côi trên địa bàn thành phố Hà Nội;
  5. Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện, tiến tới nâng cao chất lượng hoạt động công tác xã hội nhóm tại các cơ sở chăm sóc trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi nghiên cứu (1): Thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại các cơ sở chăm sóc trẻ em trên địa bàn Hà Nội hiện nay như thế nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu (2): Những yếu tố nào tác động tới hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại các cơ sở chăm sóc trẻ em trên địa bàn Hà Nội?
  • Câu hỏi nghiên cứu (3): Quy trình thực hiện công tác xã hội nhóm đã đảm bảo chưa?

Giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết (1): Thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại các cơ sở chăm sóc trẻ em mồ côi trên địa bàn Hà Nội chưa được triển khai một cách đồng bộ.
  • Giả thuyết (2): Có nhiều yếu tố tác động tới hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại các cơ sở chăm sóc trẻ em trên địa bàn Hà Nội. Một số trẻ em mồ côi chưa chủ động chia sẻ những khó khăn và nỗ lực tham gia các hoạt động nhóm; nhân viên công tác xã hội chưa đáp ứng yêu cầu về kiến thức, kỹ năng thực hiện hoạt động can thiệp nhóm; đội ngũ quản lý cơ sở chưa chú trọng đúng mức việc yêu cầu nhân viên vận dụng phương pháp nhóm; cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu tổ chức hoạt động; chính sách hỗ trợ cho nhân viên và trẻ em mồ côi chưa được đáp ứng kịp thời.
  • Giả thuyết (3): Quy trình tổ chức thực hiện các hoạt động can thiệp công tác xã hội nhóm chưa đảm bảo đúng tiến trình.

Đối tượng nghiên cứu: Công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn các cơ sở chăm sóc trẻ em tại thành phố Hà Nội.

Khách thể nghiên cứu: Trẻ em mồ côi từ 11 đến 16 tuổi (159 trẻ); lãnh đạo các cơ sở (6 người); cán bộ, nhân viên công tác xã hội trực tiếp chăm sóc (9 người).

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 hoạt động cơ bản của công tác xã hội nhóm: hoạt động giáo dục kỹ năng sống; hoạt động tham vấn hướng nghiệp; hoạt động tuyên truyền nâng cao kiến thức (phòng ngừa); hoạt động can thiệp trị liệu.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại 3 cơ sở mang tính đại diện trên địa bàn thành phố Hà Nội gồm: Làng trẻ em SOS Hà Nội, Làng trẻ em Birla Hà Nội và Trung tâm Bảo trợ xã hội 4.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiến hành từ tháng 5/2016 đến tháng 4/2019; các dữ liệu thứ cấp và số liệu tổng hợp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án được cấu trúc theo hai nguồn nghiên cứu chính: các công trình quốc tế và các công trình trong nước.

Về nghiên cứu quốc tế:

  • Các nghiên cứu lý luận và đặc điểm trẻ em mồ côi: Tác giả Ninan, E. (2010) trong nghiên cứu về chi phí chăm sóc trẻ em mồ côi và dễ bị tổn thương (OVC) tại Nam Phi và tài liệu của The U.S. President’s Emergency Plan for AIDS Relief - PEPFAR (2012) chỉ ra các đặc điểm chung của trẻ mồ côi như mặc cảm, tự ti, sống khép mình, dễ tổn thương. PEPFAR (2012) hệ thống hóa các nhóm nhu cầu của trẻ: giáo dục học đường an toàn, sống cùng bố mẹ, tiếp cận dịch vụ, đào tạo hướng nghiệp, hỗ trợ tâm lý - xã hội. Nghiên cứu của Cox, A. (2017) phân tích các nguyên nhân làm gia tăng trẻ mồ côi (HIV/AIDS, nghèo đói, di dân, ly hôn) và nguồn hỗ trợ khoảng 2 tỷ USD từ các tổ chức phi chính phủ cho các nước châu Phi giai đoạn 2003-2008, đồng thời đưa ra 5 mục tiêu giảm tỷ lệ trẻ mồ côi. Nghiên cứu của The African Child Policy Forum - ACPF (2013) dẫn chứng số liệu toàn cầu có 153 triệu trẻ mất cha hoặc mẹ, 17,8 triệu trẻ mất cả cha lẫn mẹ, chỉ rõ nghịch lý số lượng trẻ trong các trại trẻ mồ côi tại Ghana tăng từ 3.388 trẻ năm 2006 lên mức cao hơn dù có chính sách giảm thiểu.
  • Các nghiên cứu về phương pháp và tiến trình công tác xã hội nhóm: Tiêu chuẩn thực hành của Hiệp hội Phát triển Công tác xã hội nhóm (AASWG, 2010) xác lập các quy tắc đạo đức, cơ sở lý thuyết xã hội và quy trình làm việc nhóm. Tác giả Trevithick, P. (2013) phân tích cấu trúc, quy mô nhóm và xác định 4 giai đoạn can thiệp nhóm: tập hợp và định hướng; thăm dò; thực hiện và đạt kết quả; kết thúc.
  • Các nghiên cứu về giải pháp: Nghiên cứu của ACPF (2013), Kang, K. (2010), Viện đào tạo Công tác xã hội cùng Trường Công tác xã hội Jane Addams đều nhấn mạnh giải pháp mô hình gia đình thay thế (họ hàng, cộng đồng) nhằm kích thích phát triển trí tuệ và kỹ năng xã hội cho trẻ.

Về nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Các nghiên cứu về lý luận và thực trạng: Tác giả Trần Thị Hương Giang (2016) phân tích đặc điểm tổn thương của trẻ mồ côi. Báo cáo của Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em (2018) cung cấp số liệu 1,43 triệu trẻ có hoàn cảnh đặc biệt (trên 170.000 trẻ mồ côi). Tác giả Nguyễn Quang Hưng (2017) phân tích biểu hiện tâm lý né tránh, nói dối của trẻ mồ côi.
  • Các giáo trình và lý luận công tác xã hội nhóm: Nguyễn Thị Thái Lan (2012) và Nguyễn Duy Nhiên (2010) biên soạn giáo trình chuyên sâu về lịch sử, phân loại, lý thuyết và tiến trình nhóm. Hà Thị Thư (2012) nghiên cứu hệ thống kỹ năng nhóm của sinh viên gồm kỹ năng giao tiếp, thúc đẩy tiến trình và điều phối nhóm.
  • Các công trình ứng dụng công tác xã hội nhóm trên các đối tượng: Bùi Thanh Hà (2016) và Nguyễn Thị Loan (2016) nghiên cứu can thiệp nhóm với người bệnh tâm thần; Mai Quỳnh Mai (2013) nghiên cứu giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THPT; Phạm Thị Thanh Thúy (2014, 2015) và Bùi Văn Lợi (2014) nghiên cứu giảm thiểu hành vi gây hấn của học sinh và trẻ vị thành niên; Ngân Thị Liên (2012) can thiệp nâng cao giao tiếp cho trẻ mồ côi tại Nhà trẻ Hữu Nghị (Hà Nội); Đỗ Thị Huyền Trang (2015) can thiệp giảm tự ti học đường tại Ninh Bình; Nguyễn Thị Lan Anh (2014) xây dựng mô hình nhóm cho trẻ hòa nhập cộng đồng tại Làng trẻ em SOS Hà Nội. Các nghiên cứu liên quan đến kỹ năng và hướng nghiệp gồm Phạm Thanh Vân (2010), Nguyễn Thị Hương Lan (2016), Phạm Ngọc Linh (2013), Nguyễn Thị Bích Thảo (2015), Nguyễn Đức Sơn (2018).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về trẻ em mồ côi và phương pháp nhóm, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát đáp ứng nhu cầu sinh hoạt vật chất hoặc tìm hiểu đặc điểm tâm lý tổng quát. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về thực trạng triển khai 4 hoạt động công tác xã hội nhóm (kỹ năng sống, hướng nghiệp, phòng ngừa, trị liệu) tại các cơ sở chăm sóc trẻ em tập trung trên địa bàn Hà Nội. Luận án khắc phục khoảng trống này bằng việc khảo sát thực trạng, phân tích các rào cản đa chiều (từ trẻ, nhân viên, quản lý, cơ sở vật chất đến chính sách) và trực tiếp thực nghiệm một tiến trình can thiệp nhóm hướng nghiệp cụ thể để kiểm chứng hiệu quả thực tiễn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận hỗn hợp (kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng), lấy quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo vệ trẻ em làm nền tảng phương pháp luận.

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm:

  • Thuyết nhu cầu của Maslow (Maslow’s Hierarchy of Needs): Sử dụng để phân tích các tầng bậc nhu cầu của trẻ mồ côi, từ nhu cầu sinh lý, an toàn cơ bản đến nhu cầu tình cảm, tôn trọng và khẳng định bản thân.
  • Thuyết học tập xã hội của Bandura (Bandura’s Social Learning Theory): Ứng dụng để lý giải cơ chế trẻ mồ côi quan sát, học hỏi hành vi và điều chỉnh nhận thức thông qua tương tác nhóm.
  • Thuyết vai trò (Role Theory): Vận dụng vào việc định vị vai trò của nhân viên công tác xã hội, người chăm sóc và việc tái thiết lập vai trò xã hội của trẻ mồ côi.
  • Khung khái niệm và pháp lý: Vận dụng định nghĩa Trẻ em theo Luật Trẻ em số 102/2016/QH13 (dưới 16 tuổi); định nghĩa Trẻ em mồ côi theo Luật Nuôi con nuôi số 52/2010/QH12 (trẻ mất cả cha lẫn mẹ hoặc mất một trong hai người và người kia không xác định được).
  • Hệ thống 6 nguyên tắc công tác xã hội nhóm: (1) Chấp nhận thân chủ; (2) Tôn trọng quyền tự quyết; (3) Cá biệt hóa; (4) Trẻ cùng tham gia giải quyết vấn đề; (5) Giữ bí mật; (6) Xây dựng mối quan hệ nghề nghiệp.

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:

  • Phương pháp phân tích tài liệu: Khảo cứu 155 tài liệu tiếng Việt và 31 tài liệu tiếng nước ngoài gồm sách, báo cáo, đề tài khoa học và văn bản pháp luật.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên môn của các nhà khoa học tại Học viện Khoa học xã hội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Trường Đại học Hùng Vương, Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương.
  • Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát không tham dự và bán tham dự đối với các hoạt động sinh hoạt, học tập, tương tác và can thiệp tại các cơ sở nghiên cứu.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện trên 24 khách thể, gồm 6 lãnh đạo (Giám đốc, Trưởng/Phó phòng - 2 người/cơ sở); 9 nhân viên công tác xã hội/mẹ/dì trực tiếp chăm sóc (3 người/cơ sở); 9 trẻ em mồ côi từ 11 tuổi trở lên (3 trẻ/cơ sở) tại 3 đơn vị nghiên cứu theo 3 đề cương phỏng vấn sâu riêng biệt (Phụ lục 1, 2, 3).
  • Phương pháp thảo luận nhóm: Tổ chức các buổi thảo luận với 21 nhân viên công tác xã hội và người nuôi dưỡng (mỗi cơ sở chọn 7 người tự nguyện tham gia) có thư ký ghi biên bản.
  • Phương pháp điều tra bảng hỏi: Khảo sát toàn bộ 159 trẻ em mồ côi từ 11 đến 16 tuổi đang sinh sống tại 3 cơ sở (Làng trẻ em Birla: 46 trẻ; Làng trẻ em SOS: 75 trẻ; Trung tâm Bảo trợ xã hội 4: 38 trẻ). Bảng hỏi được thử nghiệm trước khi điều tra chính thức.
  • Phương pháp thống kê toán học: Toàn bộ dữ liệu định lượng từ bảng hỏi được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS.
  • Phương pháp thực nghiệm: Triển khai thực nghiệm tiến trình công tác xã hội nhóm can thiệp hướng nghiệp trên một nhóm gồm 7 trẻ em mồ côi đang học lớp 11 tại Làng trẻ em Birla Hà Nội.

Bảng tổng hợp mẫu và dữ liệu nghiên cứu thực địa của luận án:

Phương pháp nghiên cứu Đối tượng khảo sát / tham gia Quy mô mẫu Địa bàn / Đơn vị thực hiện
Điều tra bảng hỏi Trẻ em mồ côi từ 11 - 16 tuổi 159 trẻ Làng SOS (75), Làng Birla (46), TT Bảo trợ xã hội 4 (38)
Phỏng vấn sâu Lãnh đạo cơ sở chăm sóc 06 người Làng SOS (2), Làng Birla (2), TT Bảo trợ xã hội 4 (2)
Phỏng vấn sâu Nhân viên CTXH, mẹ, dì 09 người Làng SOS (3), Làng Birla (3), TT Bảo trợ xã hội 4 (3)
Phỏng vấn sâu Trẻ em mồ côi trên 11 tuổi 09 trẻ Làng SOS (3), Làng Birla (3), TT Bảo trợ xã hội 4 (3)
Thảo luận nhóm Nhân viên CTXH, người chăm sóc 21 người 3 nhóm tại 3 cơ sở (mỗi cơ sở 7 người)
Thực nghiệm tiến trình nhóm Trẻ mồ côi học lớp 11 khó khăn hướng nghiệp 07 trẻ Làng trẻ em Birla Hà Nội (3 nam, 4 nữ)
Phân tích tài liệu Công trình khoa học, báo cáo 186 tài liệu 155 tài liệu tiếng Việt, 31 tài liệu tiếng nước ngoài

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế về trẻ em mồ côi và công tác xã hội nhóm. Tác giả phân chia tổng quan thành các nhóm vấn đề: lý luận về đặc điểm trẻ em mồ côi; thực trạng gia tăng trẻ mồ côi do dịch bệnh, nghèo đói, ly hôn; các hoạt động và tiến trình can thiệp nhóm; các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp hỗ trợ (đặc biệt là mô hình gia đình thay thế). Chương 1 chỉ rõ phần lớn các công trình mới tập trung vào nhu cầu sinh hoạt vật chất, các can thiệp nhóm trước đây chỉ phân tích tâm lý chung hoặc thực hiện phân tán ở các trường học, người tâm thần, người nghiện. Từ đó, chương xác lập tính cấp thiết của việc nghiên cứu bài bản hoạt động công tác xã hội nhóm chuyên sâu cho trẻ mồ côi tại các cơ sở tập trung ở Hà Nội.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm đối trẻ em mồ côi tại các cơ sở chăm sóc trẻ em tại thành phố Hà Nội

Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm công cụ: trẻ em (dưới 16 tuổi theo Luật Trẻ em 2016), trẻ em mồ côi (mất cha mẹ, mất một trong hai người hoặc bị bỏ rơi theo Luật Nuôi con nuôi 2010), công tác xã hội nhóm. Tác giả đi sâu phân tích 7 biểu hiện tâm lý đặc thù của trẻ mồ côi: thiếu thốn tình cảm; thái độ mặc cảm tự ti và hành vi bất thường; mất lòng tin vào người xung quanh; mặc cảm tội lỗi tự trách bản thân; hay giận dữ và ác cảm; khó khăn diễn tả cảm xúc bằng lời; né tránh sự thật hoặc nói dối.

Chương 2 xác định 5 mục đích của công tác xã hội nhóm: phòng ngừa, thay đổi cảm xúc và chỉnh sửa hành vi, phục hồi chức năng, chỉnh sửa lệch chuẩn, thúc đẩy hoạt động xã hội. Luận giải chi tiết 6 nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn hóa nội hàm 4 hoạt động công tác xã hội nhóm cơ bản:

  • Hoạt động giáo dục kỹ năng sống: Giúp trẻ xác định giá trị bản thân, ra quyết định, xác định vấn đề và xác định mục tiêu sống qua các hình thức sinh hoạt câu lạc bộ, trải nghiệm thực tế, nhóm nhỏ.
  • Hoạt động tham vấn hướng nghiệp: Giúp trẻ đánh giá điểm mạnh, sở thích, năng lực cá nhân đối chiếu với nhu cầu thị trường lao động để chọn nghề phù hợp.
  • Hoạt động tuyên truyền nâng cao kiến thức: Thực hiện chức năng phòng ngừa thông qua truyền thông, tập huấn, nhóm chuyên đề.
  • Hoạt động can thiệp, trị liệu: Vận dụng tiến trình nhóm để giải tỏa tâm lý tiêu cực, giải quyết xung đột, khủng hoảng và phục hồi chức năng xã hội.

Chương 3: Thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại các cơ sở chăm sóc trẻ em tại thành phố Hà Nội

Chương 3 trình bày các kết quả điều tra thực chứng từ 159 phiếu khảo sát, 24 cuộc phỏng vấn sâu và 21 người tham gia thảo luận nhóm tại Làng trẻ em SOS Hà Nội, Làng trẻ em Birla Hà Nội và Trung tâm Bảo trợ xã hội 4. Tác giả phân tích thực trạng triển khai 4 hoạt động nhóm: hoạt động giáo dục kỹ năng sống và tuyên truyền kiến thức được tổ chức ở mức độ nhất định nhưng còn mang tính hình thức, lồng ghép đại trà; hoạt động tham vấn hướng nghiệp và can thiệp trị liệu tâm lý chuyên sâu còn hạn chế, chưa đáp ứng đúng nhu cầu thực tế của nhóm trẻ từ 11 đến 16 tuổi.

Chương 3 chỉ ra các nhóm yếu tố tác động tiêu cực đến hoạt động nhóm tại các cơ sở:

  • Từ phía trẻ em mồ côi: Mặc cảm, tự ti, rụt rè, không chủ động chia sẻ khó khăn với nhân viên xã hội;
  • Từ phía nhân viên công tác xã hội và người chăm sóc: Đội ngũ bảo mẫu, các mẹ, các dì đông đảo và tận tâm nhưng thiếu kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp về phương pháp công tác xã hội nhóm;
  • Từ phía công tác quản lý: Ban lãnh đạo cơ sở chưa đặt ra quy định bắt buộc áp dụng phương pháp nhóm vào quy trình can thiệp định kỳ;
  • Từ điều kiện cơ sở vật chất: Thiếu các không gian sinh hoạt nhóm riêng biệt, thiếu phòng chức năng và trang thiết bị chuyên dụng;
  • Từ cơ chế, chính sách: Chế độ đãi ngộ, phụ cấp cho nhân viên công tác xã hội và nguồn kinh phí tổ chức hoạt động can thiệp chuyên biệt còn thấp, chưa kịp thời.

Chương 4: Thực nghiệm tiến trình công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi và đề xuất một số giải pháp

Chương 4 ghi lại quá trình thực nghiệm can thiệp nhóm hướng nghiệp cho 7 trẻ em mồ côi (3 nam, 4 nữ) đang học lớp 11 có khó khăn về định hướng tương lai tại Làng trẻ em Birla Hà Nội. Tiến trình thực nghiệm tuân thủ các bước: tuyển chọn nhóm viên, ký kết thỏa thuận nhóm, đánh giá nhu cầu, triển khai các buổi làm việc nhóm (khám phá bản thân, tìm hiểu thị trường lao động, rèn luyện kỹ năng ra quyết định nghề nghiệp), đánh giá và kết thúc nhóm.

Kết quả thực nghiệm chứng minh: 100% (7/7 trẻ) có sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức giá trị bản thân, hiểu rõ yêu cầu ngành nghề và xác lập được định hướng nghề nghiệp thực tế. Trong đó, 2 trẻ được kết nối thành công với cơ sở đào tạo nghề và cam kết có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp; 5 trẻ còn lại lựa chọn được ngành nghề phù hợp với năng lực cá nhân.

Trên cơ sở thực trạng và kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Nâng cao năng lực chuyên môn: Định kỳ tập huấn kỹ năng điều phối, dẫn dắt tiến trình nhóm cho nhân viên công tác xã hội, các mẹ, các dì tại các cơ sở chăm sóc;
  • Đổi mới công tác quản lý: Ban hành quy trình chuẩn về can thiệp nhóm trong kế hoạch chăm sóc hàng năm tại các cơ sở bảo trợ;
  • Hoàn thiện cơ sở vật chất: Bố trí phòng hoạt động nhóm chuyên dụng, trang bị tài liệu và phương tiện hỗ trợ sinh hoạt nhóm;
  • Cải thiện chính sách: Đề xuất hoàn thiện chế độ tiền lương, phụ cấp ưu đãi nghề cho nhân viên công tác xã hội theo Đề án Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2021-2030;
  • Nhân rộng mô hình: Áp dụng tiến trình can thiệp nhóm hướng nghiệp đã thực nghiệm sang các nhóm trẻ khác và mở rộng ra các mảng can thiệp kỹ năng sống, trị liệu tâm lý.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận chuyên biệt về phương pháp công tác xã hội nhóm đối với đối tượng trẻ em mồ côi sinh sống tại các cơ sở chăm sóc tập trung;
  • Làm rõ cấu trúc 4 hoạt động nhóm cốt lõi (giáo dục kỹ năng sống, tham vấn hướng nghiệp, tuyên truyền nâng cao kiến thức, can thiệp trị liệu) và xác định các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em mồ côi từ 11 đến 16 tuổi.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Phản ánh thực trạng triển khai công tác xã hội nhóm tại 3 cơ sở bảo trợ đại diện trên địa bàn thành phố Hà Nội (Làng SOS, Làng Birla, Trung tâm Bảo trợ xã hội 4); chỉ ra các bất cập trong việc vận dụng tiến trình nhóm và hệ thống hóa 5 nhóm yếu tố tác động (trẻ em, nhân viên, quản lý, cơ sở vật chất, chính sách);
  • Triển khai thực nghiệm tiến trình nhóm hướng nghiệp gồm 7 học sinh lớp 11 tại Làng trẻ em Birla Hà Nội, đem lại kết quả cụ thể: 100% trẻ thay đổi nhận thức nghề nghiệp, 2 trẻ được kết nối học nghề và có việc làm sau tốt nghiệp, 5 trẻ xác định được nghề nghiệp phù hợp;
  • Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội nhóm, cung cấp cơ sở thực chứng để nhân rộng mô hình can thiệp nhóm sang các cơ sở bảo trợ khác trên phạm vi toàn quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài mới tập trung tại thành phố Hà Nội, khảo sát chuyên sâu tại 3 cơ sở chăm sóc trẻ em mang tính đại diện (Làng trẻ em SOS, Làng trẻ em Birla và Trung tâm Bảo trợ xã hội 4); chưa bao quát được toàn bộ gần 120 cơ sở chăm sóc trẻ em khác trên địa bàn, đặc biệt là các cơ sở tư nhân quy mô nhỏ dưới 10 trẻ;
  • Khách thể nghiên cứu là trẻ em mồ côi chỉ giới hạn trong nhóm tuổi từ 11 đến 16 tuổi;
  • Quá trình thực nghiệm tiến trình công tác xã hội nhóm mới chỉ tiến hành trên một quy mô nhỏ gồm 1 nhóm (7 trẻ) tại 1 cơ sở (Làng Birla) và tập trung chủ yếu vào hoạt động tham vấn hướng nghiệp, chưa thực nghiệm đồng thời các hoạt động can thiệp trị liệu hoặc giáo dục kỹ năng sống chuyên sâu khác.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực trạng công tác xã hội nhóm tại các cơ sở chăm sóc trẻ em ở các tỉnh, thành phố khác và các cơ sở ngoài công lập, cơ sở tôn giáo;
  • Nghiên cứu thực nghiệm tiến trình công tác xã hội nhóm trên các nhóm tuổi khác (dưới 11 tuổi hoặc trên 16 tuổi chuẩn bị rời cơ sở bảo trợ);
  • Thiết kế và thực nghiệm các tiến trình nhóm chuyên biệt về trị liệu tâm lý cho trẻ mồ côi chịu sang chấn hoặc can thiệp nhóm giảm thiểu hành vi gây hấn, lệch chuẩn tại các trung tâm bảo trợ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Tâm lý học ứng dụng tại các trường đại học, cao đẳng: Tham khảo khung lý thuyết, công cụ đo lường và hệ thống tài liệu tổng quan;
  • Cán bộ quản lý, nhân viên công tác xã hội, bảo mẫu, các mẹ, các dì tại các làng trẻ em, trung tâm bảo trợ xã hội, nhà mở: Tham khảo quy trình tổ chức sinh hoạt nhóm và phương pháp tiếp cận thân chủ là trẻ mồ côi;
  • Các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Trẻ em): Tham khảo số liệu thực chứng để xây dựng chính sách hỗ trợ nhân viên xã hội và quy chuẩn hóa dịch vụ công tác xã hội trong các cơ sở nuôi dưỡng tập trung.

Phần nội dung có giá trị ứng dụng cao gồm:

  • Tiến trình thực nghiệm can thiệp nhóm hướng nghiệp tại Chương 4;
  • Bộ công cụ khảo sát thực địa gồm đề cương phỏng vấn sâu lãnh đạo (Phụ lục 1), nhân viên công tác xã hội (Phụ lục 2), trẻ em mồ côi (Phụ lục 3) và phiếu điều tra bảng hỏi 159 trẻ (Phụ lục 4).

Câu hỏi thường gặp

Câu 1: Khách thể và dung lượng mẫu khảo sát thực địa của luận án được phân bổ như thế nào?
Luận án thực hiện điều tra bảng hỏi trên 159 trẻ em mồ côi từ 11 đến 16 tuổi tại 3 cơ sở ở Hà Nội: Làng trẻ em Birla Hà Nội (46 trẻ), Làng trẻ em SOS Hà Nội (75 trẻ) và Trung tâm Bảo trợ xã hội 4 (38 trẻ). Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu 24 người (6 lãnh đạo, 9 nhân viên/người nuôi dưỡng, 9 trẻ em mồ côi) và tổ chức thảo luận nhóm với 21 nhân viên công tác xã hội (mỗi cơ sở 7 người).

Câu 2: Bốn hoạt động công tác xã hội nhóm cơ bản mà luận án tập trung nghiên cứu là gì?
Bốn hoạt động cơ bản gồm:

  1. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống (xác định giá trị bản thân, ra quyết định, xác định vấn đề, lập mục tiêu);
  2. Hoạt động tham vấn hướng nghiệp (khám phá năng lực, sở thích, tìm hiểu thị trường lao động, chọn nghề);
  3. Hoạt động tuyên truyền nâng cao kiến thức (phòng ngừa rủi ro, phổ biến kiến thức xã hội);
  4. Hoạt động can thiệp trị liệu (hỗ trợ tâm lý, phục hồi chức năng, giải tỏa cảm xúc tiêu cực).

Câu 3: Kết quả cụ thể của quá trình thực nghiệm nhóm hướng nghiệp tại Làng trẻ em Birla đạt được những gì?
Quá trình can thiệp thực nghiệm trên 7 trẻ học lớp 11 (3 nam, 4 nữ) đã giúp 100% thành viên (7/7 trẻ) thay đổi nhận thức về ngành nghề và tự đánh giá năng lực bản thân. Trong đó, 2 trẻ được kết nối trực tiếp với cơ sở đào tạo nghề và có việc làm sau tốt nghiệp; 5 trẻ còn lại xác định được ngành nghề phù hợp với năng lực và hoàn cảnh cá nhân.

Câu 4: Luận án sử dụng những lý thuyết và nguyên tắc nghề nghiệp nào làm cơ sở phân tích?
Luận án vận dụng thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết học tập xã hội của Bandura, thuyết vai trò và 6 nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp công tác xã hội: (1) Chấp nhận thân chủ; (2) Tôn trọng quyền tự quyết; (3) Cá biệt hóa; (4) Trẻ cùng tham gia giải quyết vấn đề; (5) Giữ bí mật; (6) Xây dựng mối quan hệ nghề nghiệp.

Câu 5: Những yếu tố nào cản trở hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại Hà Nội?
Luận án xác định 5 nhóm yếu tố cản trở:

  1. Tâm lý khép mình, mặc cảm, thiếu chủ động chia sẻ của trẻ mồ côi;
  2. Kiến thức, kỹ năng can thiệp nhóm của nhân viên công tác xã hội và người nuôi dưỡng chưa đáp ứng yêu cầu;
  3. Cán bộ quản lý cơ sở chưa chú trọng chỉ đạo vận dụng phương pháp nhóm vào can thiệp định kỳ;
  4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và không gian dành riêng cho sinh hoạt nhóm còn thiếu thốn;
  5. Cơ chế, chính sách tiền lương, phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp chưa tương xứng và kịp thời.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn các cơ sở chăm sóc trẻ em tại thành phố Hà Nội" đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng triển khai phương pháp công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại các cơ sở bảo trợ xã hội. Bằng cách kết hợp phương pháp điều tra định lượng (159 bảng hỏi), định tính (24 phỏng vấn sâu, 21 nhân viên thảo luận nhóm) và thực nghiệm lâm sàng trên 7 trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em Birla, công trình đã chứng minh tính hiệu quả của tiến trình can thiệp nhóm hướng nghiệp. Các phát hiện và hệ thống giải pháp của luận án đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc chuẩn hóa, nâng cao chất lượng các dịch vụ công tác xã hội nhóm dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam.