Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2005 - 2010 thuộc nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ X, hơn 90% cấp ủy các cấp đã chủ động ban hành chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa, tiến hành kiểm tra trên 280.000 tổ chức đảng và hơn 1,2 triệu lượt cán bộ, đảng viên. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là quy luật phát triển tất yếu khách quan, đòi hỏi nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp và pháp luật phải được quán triệt sâu sắc. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cùng tệ nạn tham nhũng, lãng phí ở một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ mối quan hệ bản chất, tất yếu hai chiều giữa công tác xây dựng Đảng với tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phân tích thực trạng hoạt động kiểm tra, giám sát trong nhiệm kỳ Đại hội X (2005 - 2010); từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong điều kiện mới. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống tổ chức Đảng và cơ quan Ủy ban Kiểm tra các cấp tại Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2012, lấy trọng tâm khảo sát dữ liệu giai đoạn 2005 - 2010. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học nhằm chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ kiểm tra theo Điều 32 Điều lệ Đảng, phấn đấu giảm tỷ lệ khiếu nại kỷ luật tồn đọng xuống dưới 5% và nâng cao tỷ lệ phát hiện sai phạm sớm từ khâu giám sát chủ động lên trên 70%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Nhà nước pháp quyền khởi nguồn từ tư tưởng cổ điển của Aristotle, Montesquieu, Rousseau kết hợp với quan điểm Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về "thần linh pháp quyền" nhằm xác lập nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng ngừa nguy cơ lạm quyền, độc đoán. Đồng thời, học thuyết Pháp chế xã hội chủ nghĩa của Lênin được áp dụng làm nền tảng định hình 5 nguyên tắc vận hành: tính thống nhất, tính hợp lý, tính nghiêm minh không có ngoại lệ, gắn liền với dân chủ và sự tương hỗ với văn hóa pháp lý.

Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tác động biện chứng hai chiều: công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là phương thức bảo đảm pháp chế, trong khi sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền đặt ra yêu cầu chuẩn hóa kỷ cương, dân chủ hóa nội bộ Đảng. Năm khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (theo Điều 2 Hiến pháp 1992, sửa đổi năm 2001);
  2. Kiểm tra của Đảng (hoạt động xem xét, làm rõ đúng sai, kết luận và xử lý);
  3. Giám sát của Đảng (hoạt động theo dõi, quan sát thường xuyên để phòng ngừa vi phạm);
  4. Kỷ luật của Đảng ("kỷ luật sắt" mang tính nghiêm túc và tự giác theo Điều 35 Điều lệ Đảng);
  5. Kiểm soát quyền lực chính trị gắn liền với pháp chế xã hội chủ nghĩa theo Điều 12 Hiến pháp 1992.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống Văn kiện Đảng toàn quốc qua 11 kỳ Đại hội (từ năm 1930 đến năm 2011), các Nghị quyết chuyên đề như Nghị quyết Trung ương 5 khóa X, Nghị quyết số 12-NQ/TW Hội nghị Trung ương 4 khóa XI năm 2012, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2005 - 2010 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu khảo sát thứ cấp bao quát 63 tỉnh, thành ủy trực thuộc Trung ương cùng hơn 1.000 hồ sơ kiểm tra dấu hiệu vi phạm và giải quyết khiếu nại kỷ luật điển hình. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được triển khai nhằm đảm bảo tính đại diện cho các cấp ủy đảng từ cơ sở, cấp huyện, cấp tỉnh đến cấp Trung ương.

Luận văn kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: phân tích quy phạm pháp luật, tổng hợp đối chiếu số liệu thống kê định lượng, so sánh thể chế và phương pháp tình huống thực tế. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm đánh giá chính xác mối quan hệ tương hỗ giữa pháp chế nhà nước và kỷ luật đảng, khắc phục triệt để tính chủ quan trong đánh giá thực tiễn. Toàn bộ quá trình nghiên cứu, xử lý số liệu được thực hiện liên tục trong khung thời gian 24 tháng (từ năm 2010 đến năm 2012).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm trong nhiệm kỳ Đại hội X (2005 - 2010) đã đạt hiệu quả thực chất; Ủy ban Kiểm tra các cấp đã tiến hành kiểm tra trên 16.000 tổ chức đảng và hơn 64.000 đảng viên, phát hiện và kết luận vi phạm chiếm tỷ lệ trên 68%, trong đó phải áp dụng các hình thức thi hành kỷ luật nghiêm minh đối với hơn 45% tổng số trường hợp vi phạm.

Thứ hai, việc chuyển đổi từ cơ chế kiểm tra vụ việc đơn thuần sang kết hợp giám sát thường xuyên theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa X đã tạo bước ngoặt lớn. Tỷ lệ cấp ủy và tổ chức đảng thực hiện giám sát chuyên đề định kỳ tăng từ 32% vào năm 2006 lên mức 78,5% vào năm 2010, giúp phát hiện sớm các dấu hiệu lệch lạc, giảm tỷ lệ vi phạm kỷ luật nghiêm trọng ở cấp chi bộ cơ sở xuống khoảng 14%.

Thứ ba, nguyên tắc kỷ luật Đảng "không có ngoại lệ, không có vùng cấm" được giữ vững; trên 95% quyết định thi hành kỷ luật được thực hiện đúng thẩm quyền, phương châm "công minh, chính xác, kịp thời" được bảo đảm chặt chẽ, tỷ lệ giải quyết đơn thư khiếu nại kỷ luật tồn đọng tại cấp ủy các cấp đạt trên 92% trong giai đoạn 2008 - 2010.

Thứ tư, cơ chế phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Đảng với cơ quan Thanh tra Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan tư pháp đã từng bước hoàn thiện, giúp chuyển giao sang cơ quan điều tra xem xét xử lý hình sự đối với hơn 1.200 vụ việc có dấu hiệu phạm tội về tham nhũng, lãng phí và kinh tế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những chuyển biến tích cực trên xuất phát từ sự đổi mới nhận thức lý luận của Đảng, khẳng định "kiểm tra là chức năng lãnh đạo của Đảng, lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: "chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra". Khi kiểm tra, giám sát được đặt đúng vị trí, bộ máy Đảng và Nhà nước sẽ ngăn chặn được nguy cơ lạm quyền, quan liêu, mệnh lệnh.

So sánh với các công trình nghiên cứu cùng giai đoạn vốn chỉ tiếp cận kiểm tra Đảng dưới góc độ nghiệp vụ tổ chức thuần túy, luận văn này đã xác lập tính kết nối thể chế: công tác kiểm tra của Đảng chính là công cụ chính trị - pháp lý tối quan trọng để hiện thực hóa nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong Nhà nước pháp quyền.

Để minh họa trực quan xu hướng chuyển dịch dữ liệu, các phát hiện nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua bảng ma trận thống kê so sánh kết quả xử lý vi phạm giai đoạn 2005 - 2010 phân theo từng nhóm hành vi (vi phạm phẩm chất lối sống, cố ý làm trái, tham nhũng, lãng phí) và biểu đồ đường thể hiện sự gia tăng tương quan giữa số lượng cuộc giám sát chủ động và mức độ suy giảm các vi phạm kỷ luật nghiêm trọng qua từng năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành giữa Ủy ban Kiểm tra các cấp với Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Viện Kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân. Mục tiêu nhằm rút ngắn thời gian luân chuyển, xử lý hồ sơ vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật từ 60 ngày xuống dưới 30 ngày. Lộ trình thực hiện hoàn thành trong giai đoạn 2013 - 2015, do Ban Bí thư Trung ương Đảng và Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì chỉ đạo.

Thứ hai, đổi mới toàn diện quy trình kiểm tra, giám sát theo hướng minh bạch hóa thủ tục, ứng dụng cơ sở dữ liệu số hóa trong quản lý hồ sơ kiểm tra cán bộ, đảng viên. Phấn đấu đến năm 2018 đạt 100% tổ chức đảng trực thuộc áp dụng quy trình kiểm tra chuẩn hóa theo Điều lệ Đảng, giúp cắt giảm 50% thời gian thẩm tra, xác minh vụ việc mà vẫn đảm bảo tính chính xác tuyệt đối. Nhiệm vụ do cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra các tỉnh, thành ủy chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Thứ ba, tăng cường đào tạo, chuẩn hóa chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức công vụ cho đội ngũ hơn 15.000 cán bộ kiểm tra chuyên trách trên toàn quốc. Đảm bảo đến năm 2017, 100% cán bộ làm công tác kiểm tra từ cấp huyện trở lên đạt trình độ cử nhân luật hoặc cử nhân xây dựng Đảng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu xử lý các vụ việc kinh tế, chức vụ phức tạp.

Thứ tư, thiết lập cơ chế giám sát xã hội và phản biện thực chất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân đối với hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước. Hoàn thiện kênh tiếp nhận tin báo, phản ánh 24/7, phấn đấu xử lý, giải quyết dứt điểm 100% đơn thư tố cáo chính danh có căn cứ trong thời hạn 60 ngày theo quy định.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ ngành Kiểm tra Đảng và cấp ủy các cấp: Nắm vững hệ thống cơ sở lý luận, phương pháp luận và quy trình tác nghiệp thực tế theo Điều 32, Điều 35 Điều lệ Đảng để nâng cao hiệu lực kiểm tra dấu hiệu vi phạm và thi hành kỷ luật nghiêm minh tại địa phương, đơn vị.

  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Luật học và Xây dựng Đảng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về mối quan hệ giữa thể chế kiểm soát quyền lực, pháp chế xã hội chủ nghĩa và chức năng lãnh đạo của Đảng cầm quyền trong Nhà nước pháp quyền.

  3. Cán bộ công tác tại các cơ quan Thanh tra, Kiểm toán, Công an, Viện Kiểm sát và Tòa án: Hiểu rõ cơ chế liên thông, phối hợp đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính và xử lý tư pháp hình sự trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

  4. Lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội và đại biểu dân cử: Ứng dụng các giải pháp phát huy dân chủ cơ sở, xây dựng cơ chế để nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức đảng viên.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao kiểm tra, giám sát của Đảng lại là phương thức bảo đảm pháp chế trong Nhà nước pháp quyền? Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật (Điều 4 Hiến pháp 1992). Kiểm tra, giám sát của Đảng giúp đảm bảo đường lối, chỉ thị của Đảng được thể chế hóa đúng đắn vào luật pháp, đồng thời buộc mọi cán bộ, đảng viên trong bộ máy công quyền phải gương mẫu tuân thủ pháp luật, phòng ngừa lạm quyền.

  2. Điểm khác biệt căn bản giữa hoạt động "kiểm tra" và "giám sát" của Đảng là gì? Kiểm tra là hoạt động diễn ra theo quy trình chặt chẽ nhằm xem xét, đánh giá, kết luận rõ đúng sai, ưu khuyết điểm và đề xuất xử lý kỷ luật nếu có vi phạm. Giám sát là hoạt động quan sát, theo dõi thường xuyên, liên tục để chủ động nhắc nhở, hướng dẫn, ngăn chặn vi phạm từ khi mới manh nha, chưa để lại hậu quả nghiêm trọng.

  3. Nguyên tắc "kỷ luật sắt - nghiêm túc và tự giác" trong Đảng được thể hiện như thế nào? Tính nghiêm túc đòi hỏi mọi tổ chức đảng và đảng viên vi phạm đều phải xử lý công minh, chính xác, kịp thời, không có ngoại lệ. Tính tự giác thể hiện ở việc đảng viên tự nguyện đặt mình dưới sự quản lý của chi bộ, tự phê bình trung thực, nhận thức rõ khuyết điểm để khắc phục, sửa chữa nhằm hoàn thiện bản thân.

  4. Nghị quyết Trung ương 5 khóa X có ý nghĩa đột phá gì đối với công tác kiểm tra của Đảng? Nghị quyết Trung ương 5 khóa X là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát. Nghị quyết chính thức bổ sung thẩm quyền giám sát của cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra, xác định giám sát là chức năng lãnh đạo thường xuyên, đánh dấu bước chuyển từ bị động xử lý sang chủ động phòng ngừa sai phạm.

  5. Luận văn giải quyết vấn đề chồng chéo giữa kiểm tra Đảng và thanh tra Nhà nước bằng cách nào? Luận văn đề xuất cơ chế phân định rõ thẩm quyền, chia sẻ dữ liệu thông tin và xây dựng kế hoạch kiểm tra liên ngành hằng năm. Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật, Ủy ban Kiểm tra phối hợp cùng Thanh tra tiến hành xác minh song song, sử dụng kết luận của nhau để xử lý đồng bộ cả về mặt Đảng và chính quyền.

Kết luận

  • Công tác kiểm tra, giám sát là chức năng lãnh đạo tất yếu, là phương thức sống còn để giữ nghiêm kỷ luật Đảng và bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
  • Luận văn đã luận giải sâu sắc mối quan hệ biện chứng hai chiều giữa nhiệm vụ xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và sự nghiệp hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
  • Công trình đã hệ thống hóa và phân tích toàn diện bức tranh thực trạng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội X (2005 - 2010) với các dữ liệu thực tiễn tin cậy.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất đồng bộ về thể chế, quy trình, nhân sự và cơ chế phối hợp giám sát xã hội, có tính khả thi cao phục vụ tiến trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đến năm 2020.
  • Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc cụ thể hóa Nghị quyết số 12-NQ/TW Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới.

Các cơ quan nghiên cứu lý luận, cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra các cấp cần tiếp tục ứng dụng linh hoạt các luận điểm của công trình vào thực tiễn, không ngừng đổi mới công tác kiểm tra, giám sát để nâng cao năng lực lãnh đạo, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.