Công Tác Báo Chí Của Đảng Từ Năm 1996 Đến Năm 2010

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh công tác báo chí của đảng từ năm 1996 đến năm 2010, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

113
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ (1996-2010)

1.1. Công tác báo chí của Đảng giai đoạn đầu đổi mới

1.2. Sự nghiệp đổi mới với công tác báo chí của Đảng

1.3. Thành tựu của báo chí cách mạng Việt Nam trong 10 năm đầu đổi mới

1.4. Đảng lãnh đạo báo chí cách mạng Việt Nam phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

1.5. Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với công tác báo chí

1.6. Những quan điểm định hướng cho hoạt động báo chí

1.7. Tăng cường lãnh đạo báo chí thông qua Nhà nước và các đoàn thể chính trị-xã hội

1.8. Chỉ đạo tăng cường vai trò của Hội Nhà báo và xây dựng đội ngũ những người làm báo chuyên nghiệp

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CHỦ YẾU CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1996-2010)

2.1. Sự phát triển nhanh của các cơ quan báo chí và đội ngũ những người làm báo

2.2. Số lượng các cơ quan báo chí tăng lên mạnh mẽ

2.3. Đội ngũ những người làm báo phát triển nhanh và tinh thông nghề nghiệp

2.4. Báo chí góp phần to lớn vào công tác tư tưởng của Đảng

2.5. Phản ánh kịp thời những hoạt động quan trọng của Đảng, Nhà nước

2.6. Giữ vững định hướng tư tưởng

2.7. Phản ánh kịp thời, sâu sắc những thành tựu đổi mới của đất nước

2.8. Đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm sai trái và các hiện tượng tiêu cực

2.9. Tuyên truyền đối ngoại bước đầu có những chuyển biến

2.10. Một số hạn chế, khuyết điểm của báo chí

2.11. Đội ngũ báo chí phát triển nhanh nhưng thiếu những cốt bật chính luận

2.12. Nặng về phê phán, ít biểu dương

2.13. Tuyên truyền đối ngoại còn kém hiệu quả

2.14. Đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch chưa sắc bén

2.15. Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm của báo chí trong thời gian qua

2.16. Phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với báo chí chậm đổi mới

2.17. Năng lực, bản lĩnh, trách nhiệm của đội ngũ những người làm báo còn bất cập, hạn chế

2.18. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, sử dụng cán bộ, phóng viên, nhân viên ở một số cơ quan báo chí chưa đáp ứng yêu cầu

2.19. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về báo chí không theo kịp sự phát triển của báo chí

2.20. Chiến lược thông tin quốc gia, công tác quy hoạch phát triển báo chí chưa theo kịp bước phát triển của báo chí

2.21. Tác động tiêu cực từ bên ngoài

3. CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC ĐỔI MỚI NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BÁO CHÍ CỦA ĐẢNG

3.1. Bài học kinh nghiệm

3.2. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng với báo chí

3.3. Tăng cường sự quản lý của Nhà nước với báo chí

3.4. Xây dựng đội ngũ làm báo có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp

3.5. Một số vấn đề cần tiếp tục đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác báo chí của Đảng

3.6. Một số vấn đề mới nảy sinh trong hoạt động báo chí

3.7. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với báo chí

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Công Tác Báo Chí Của Đảng Việt Nam 1996 2010

Công tác báo chí của Đảng Việt Nam từ năm 1996 đến 2010 đã trải qua nhiều biến động và phát triển mạnh mẽ. Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển mình của báo chí trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò quan trọng của báo chí trong việc truyền tải thông tin, định hướng tư tưởng và góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

1.1. Vai Trò Của Báo Chí Trong Chính Trị Việt Nam

Báo chí được xem là công cụ quan trọng trong việc truyền tải thông tin và chính sách của Đảng. Nó không chỉ phản ánh ý kiến của nhân dân mà còn là cầu nối giữa Đảng và quần chúng. Trong giai đoạn này, báo chí đã đóng góp tích cực vào việc nâng cao nhận thức chính trị của người dân.

1.2. Những Đổi Mới Trong Công Tác Báo Chí

Đảng đã thực hiện nhiều chính sách đổi mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác báo chí. Các cơ quan báo chí đã được khuyến khích phát triển đa dạng về hình thức và nội dung, từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của xã hội.

II. Thành Tựu Của Công Tác Báo Chí Đảng Việt Nam 1996 2010

Trong giai đoạn này, công tác báo chí của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Sự phát triển nhanh chóng của các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo chuyên nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc định hướng dư luận xã hội.

2.1. Sự Phát Triển Của Các Cơ Quan Báo Chí

Số lượng các cơ quan báo chí tăng lên đáng kể, từ báo in đến báo điện tử, đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của người dân. Điều này cho thấy sự quan tâm của Đảng đối với việc phát triển báo chí cách mạng.

2.2. Đội Ngũ Nhà Báo Chuyên Nghiệp

Đội ngũ nhà báo đã được đào tạo bài bản, nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Họ đã có những đóng góp quan trọng trong việc phản ánh kịp thời các sự kiện chính trị, kinh tế và xã hội.

III. Thách Thức Trong Công Tác Báo Chí Của Đảng 1996 2010

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, công tác báo chí của Đảng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Tình trạng thương mại hóa và áp lực từ các nguồn thông tin bên ngoài đã ảnh hưởng đến chất lượng và tính chính xác của thông tin.

3.1. Tình Trạng Thương Mại Hóa

Sự gia tăng thương mại hóa trong báo chí đã dẫn đến việc một số cơ quan báo chí xa rời tôn chỉ, mục đích ban đầu. Điều này đã gây ra những lo ngại về tính khách quan và trung thực của thông tin.

3.2. Áp Lực Từ Các Nguồn Thông Tin Bên Ngoài

Sự phát triển của internet và các phương tiện truyền thông xã hội đã tạo ra áp lực lớn đối với báo chí truyền thống. Các cơ quan báo chí cần phải tìm ra cách thức mới để cạnh tranh và thu hút độc giả.

IV. Phương Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Báo Chí Của Đảng

Để nâng cao hiệu quả công tác báo chí, Đảng cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý báo chí. Việc xây dựng đội ngũ nhà báo có trình độ chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp là rất quan trọng.

4.1. Tăng Cường Đào Tạo Nhà Báo

Đảng cần chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà báo, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Điều này sẽ giúp báo chí phát huy tốt hơn vai trò của mình.

4.2. Đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo

Cần có những chính sách đổi mới trong phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí hoạt động hiệu quả và đúng hướng.

V. Kết Luận Về Công Tác Báo Chí Của Đảng Việt Nam 1996 2010

Công tác báo chí của Đảng Việt Nam trong giai đoạn 1996-2010 đã có những bước tiến quan trọng, nhưng cũng không thiếu những thách thức. Việc tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác báo chí là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập.

5.1. Đánh Giá Tổng Quan

Công tác báo chí đã góp phần quan trọng vào việc định hướng tư tưởng và thông tin cho nhân dân. Tuy nhiên, cần phải khắc phục những hạn chế để phát huy tốt hơn vai trò của báo chí trong thời gian tới.

5.2. Hướng Tương Lai

Đảng cần tiếp tục có những chính sách phù hợp để phát triển báo chí, đồng thời đảm bảo tính chính trị và tính giai cấp của báo chí phục vụ cách mạng.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ (1996-2010) 1. Công tác báo chí của Đảng giai đoạn đầu đổi mới 1. Sự nghiệp đổi mới với công tác báo chí của Đảng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12- 1986) trở thành mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển sang thời kỳ đổi mới của Việt Nam. Nghị quyết Đại hội xác định: ''đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực'', ''trọng tâm trước mắt là đổi mới chính sách kinh tế'', ''giữ vững ổn định chính trị là tiền đề để bảo đảm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới''.

Đại hội VI khẳng định quyết tâm tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN. Từ Đại hội này, Đảng đã đặt ra vấn đề đổi mới toàn diện, trước hết, trên lĩnh vực quản lý kinh tế và sản xuất. Trong khi không ngừng chăm lo nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đảng và nhân dân ta tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng CNXH, xây dựng chế độ làm chủ tập thể, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới và con người mới XHCN. Những mục tiêu cụ thể được đặt ra gồm: sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất, xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới, tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội, bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh.

Đại hội lần thứ VI của Đảng chỉ rõ: Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt. trong đó có đổi mới báo chí. Vấn đề đổi mới báo chí cũng theo luồng gió đổi mới sau Đại hội Đảng lần thứ VI được đặt ra hết sức quyết liệt. Hội nghị thường kỳ BCH Hội Nhà 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com báo Việt Nam cuối năm 1986 nhằm tiếp thu các quan điểm mới của Trung ương về dự thảo Báo cáo chính trị và nội dung tuyên truyền của báo chí phục vụ Đại hội VI của Đảng.

Một trong những trọng tâm của Hội nghị BCH Hội Nhà báo Việt Nam là quán triệt tinh thần chỉ đạo, đổi mới của Đảng trên các lĩnh vực công tác, trước hết là trên lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội, trong đó có công tác báo chí. Đây là lần đầu tiên, vấn đề đổi mới báo chí được nêu ra một cách thẳng thắn và quyết tâm trong hội nghị thường kỳ của Hội Nhà báo. Hội nghị nhấn mạnh: phải đổi mới tư duy, đổi mới phong cách, đổi mới tổ chức và cán bộ trong báo chí mới có thể tiến kịp sự phát triển của cách mạng và báo chí mới phát huy được đầy đủ chức năng là công cụ của Đảng, là cầu nối liền giữa Đảng với quần chúng. Tại Đại hội lần thứ V Hội Nhà báo Việt Nam (10-1989), vấn đề đổi mới báo chí đã được đánh giá cụ thể và có tầm chiến lược.

Với tiêu đề Đổi mới báo chí vì sự nghiệp đổi mới của đất nước của BCH khóa IV tại Đại hội đã khẳng định sự phát triển của báo chí thể hiện rõ qua phong trào đổi mới báo chí phục vụ sự nghiệp đổi mới của đất nước. Từ những thành tựu và khuyết điểm của báo chí Việt Nam trong quá trình đổi mới, Đại hội V đã đưa ra quan điểm đổi mới báo chí: Báo chí thể hiện tiếng nói của Đảng, đồng thời là diễn đàn của nhân dân; sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí; mở rộng dân chủ với tinh thần dân chủ trong báo chí. Có thể nói tư tưởng lấy dân làm gốc, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra của Đảng đã thực sự thấm sâu vào quá trình đổi mới báo chí. Ngày 20-1-1990, Quốc hội đã thông qua và chính thức công bố Luật Báo chí mới.

Luật Báo chí thể hiện trung thực những bước đi về những quan điểm cơ bản trong công cuộc đổi mới báo chí của Đảng và Nhà nước cũng như ý nguyện của toàn dân. Luật Báo chí xác định, dù là cơ quan thông tin, ngôn luận của bất cứ cơ quan, tổ chức nào cũng là diễn đàn của nhân dân. Nhà nước tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngôn luận trên báo chí và để phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng.

Quyền thông tin và quyền được tự do thông tin của nhân dân đã được thể hiện trong Luật Báo chí. Có thể nói Luật Báo chí năm 1990 đã thể hiện khá trung thực những bước tiến quan trọng về tư duy của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới báo chí cũng như ý nguyện của toàn dân. Luật Báo chí ra đời cũng chính do sự phát triển nội tại của báo chí Việt Nam, là kết quả của cả một quá trình tự vận động để đổi mới báo chí, đóng góp vào công cuộc chung của toàn đất nước ở thời điểm đó. Nhằm cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 63-CT/TW, ngày 25-7-1990 về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí, xuất bản.

Có thể nói rằng, đây là văn kiện quan trọng đầu tiên nêu rõ nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí; đồng thời, xác định các công việc mà Đảng, Nhà nước cần thực hiện để lãnh đạo, quản lý báo chí; trách nhiệm của cơ quan chủ quản; trách nhiệm, quyền hạn của người phụ trách cơ quan báo chí và việc thành lập các tổ chức đảng trong các cơ quan báo chí. Từ cụ thế các công việc của chủ thể lãnh đạo, quản lý (Đảng và Nhà nước) đến khách thể lãnh đạo, quản lý (các cơ quan báo chí), Chỉ thị số 63-CT/TW khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí cũng như chỉ ra các công việc cụ thể cần tiến hành để thực hiện sự lãnh đạo này. Đại hội VII của Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991). Trong cương lĩnh, phần nói về báo chí, Đảng ta khẳng định : “Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân.

Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin đa dạng nhiều chiều, kịp thời, chân thực và bổ ích” [ 2, tr. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp báo chí, ngày 31-3-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 08-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo và quản 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác báo chí, xuất bản. Chỉ thị số 08- CT/TW ghi nhận những ưu điểm, thành tích của báo chí, xuất bản, đồng thời chỉ rõ những khuyết điểm, yếu kém của lĩnh vực công tác này trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới. Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) ra Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 18-2-1995 về Một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng.

Trong đó, Đảng yêu cầu phải: nâng cao chất lượng, hiệu quả của báo chí; coi trọng công tác bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ phụ trách báo chí, nắm vững và chủ động thực hiện đúng đắn, sáng tạo các định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng; đấu tranh có hiệu quả chống tham nhũng, tiêu cực, chống âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch. Thành tựu của báo chí cách mạng Việt Nam trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1996) Sau 10 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, sự lãnh đạo sâu sát của Đảng đã tạo ra những bước phát triển mới cho báo chí. Có thể nói, thời kỳ đổi mới đất nước là thời kỳ có điều kiện tốt nhất, phát triển mạnh mẽ nhất của báo chí Việt Nam, cả về số lượng, chất lượng, loại hình báo chí và đội ngũ những người làm báo, phong phú về nội dung và cái nhìn đa chiều của báo chí trước những vấn đề lớn của đất nước và thế giới. Đây chính là thời điểm mà báo chí Việt Nam bắt đầu tiếp cận với nền báo chí hiện đại với việc từng bước xóa bỏ bao cấp, phát triển đa dạng, mạnh mẽ các loại hình báo chí.

Trước hết, báo chí có sự phát triển nhanh về số lượng ấn phẩm, loại hình, không ngừng nâng cao chất lượng và hình thức của các loại hình báo chí. Trước năm 1986, cả nước mới có gần 100 đơn vị báo chí; trong đó, chỉ có 4 tờ báo ra hằng ngày, 2 đài quốc gia là Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam. Số ấn phẩm, thời lượng, chương trình phát sóng, nhìn chung, rất hạn chế. Hầu hết các đơn vị báo ngành, đoàn thể ra từ một đến hai kỳ/tuần; 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lượng phát hành ít, trừ báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng, các tờ báo khác chủ yếu phát hành trang nội bộ.

Sự bùng nổ của báo chí bắt đầu từ năm 1986, đặc biệt là từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Cả nước đã có tới 687 cơ quan báo chí, bao gồm 172 báo, 448 tạp chí; 67 đài phát thanh, truyền hình (2 đài quốc gia) với hơn 803 ấn phẩm, sản phẩm báo chí; hơn 600 đài truyền thanh huyện; 88 báo điện tử, trên 2.000 bản tin; số bản in đạt gần 800 triệu/năm, bình quân xấp xỉ 9 bản/người/năm. Đến năm 1997, cả nước đã có 450 đơn vị báo chí với 563 ấn phẩm các loại gồm 153 tờ báo, 290 tạp chí, phát hành 565 triệu bản/năm [63,tr. Về loại hình, báo chí điện tử ra đời và phát triển đã đưa lại sự hoàn chỉnh cho hệ thống báo nước ta với 4 loại hình: báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử trên mạng internet.

Đội ngũ báo chí điện tử, báo chí trực tuyến phát triển mạnh mẽ cùng với các nhà cung cấp dịch vụ internet tạo nên một mạng thông tin báo chí điện tử sôi động có sức thu hút hàng triệu lượt người truy cập hằng ngày, với 17 trang website phát trên mạng internet. Cả nước 2 đài phát thanh và truyền hình quốc gia, hơn chục đài phát thanh và truyền hình khu vực, 64 đài phát thanh, truyền hình ở các tỉnh, thành phố.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ