Đặt vấn đề nhân tố bên trong NHTM: như quản trị rủi ro kém, quy trình tín dụng chưa hoàn chỉnh, đầu Từ khi đổi mới, hệ thống Ngân hàng Việt tư mạo hiểm, năng lực và đạo đức của nhân Nam chuyển sang mô hình 02 cấp, phát triển viên chưa đáp ứng yêu cầu, sở hữu chéo. Bên nhanh chóng và từng bước hội nhập quốc cạnh những rủi ro lãi suất, hối đoái, đạo đức. tế, phát huy vai trò kênh dẫn vốn lưu thông rủi ro về nợ xấu cần được xử lý hiệu quả trong trong nền kinh tế thị trường. Hệ thống ngân điều kiện hiện nay.
Kinh doanh ngân hàng hàng Việt Nam đóng góp lớn vào sự phát không thể tránh khỏi nợ xấu, nhưng để nợ triển của đất nước với tổng giá trị tài sản xấu tổn tại quá cao và kéo đài ở nội hay ngoại đạt hơn hai lần so với GDP, trong đó, tổng bảng là vấn đế nghiêm trọng cần phải giải vốn tín dụng tăng lên gần 116% GDP vào quyết. Chính vì vậy, việc nghiên cứu nguồn cuối năm 2010 và trên 102% vào cuối năm gốc phát sinh nợ xấu giúp để ra giải pháp, 2011 (UBGSTCQG, 2011). Nam 2012 tổng chính sách phù hợp nhằm điều tiết hoạt động GDP tăng 5,03% tương đương 138 tỷ USD, tín dụng, xử lý triệt để và căn cơ vấn để nợ trong khi đó dư nợ tín dụng tăng 8,91% tương xấu, lành mạnh hóa hệ thống tín dụng phù đương 143,3 tỷ USD, tỷ lệ dư nợ tín dụng so hợp với chuẩn mực quốc tế là cần thiết. với GDP là 104%.
Thực trạng nợ xấu trong hệ thống ngân Tuy nhiên cùng với bước phát triển nhanh đó, hàng thương mại hoạt động ngân hàng tiểm ẩn nhiễu rủi ro ngày càng lớn do tác động của các nhân tố bên Bảng 1 cho thấy tỷ lệ nợ xấu ở các NHTM ngoài như bất ổn vĩ mô, khủng hoảng kinh tăng rất nhanh trong giai đoạn 2010-2012, tế tài chính thế giới, thị trường chứng khoán đặc biệt là năm 2012. Tính đến tháng 6/2012, và thị trường bất động sản suy thoái. và các nợ xấu tại các NHTM được NHNN công bố ti Cong nghe ngan hang Số 73 ®Tháng 4/2012 NỢ XẤU <«<<<< Bảng 1: Nợ xấu tại NHTM Thời gian Nợ xấu (tỷ đồng) | Tổng dư nợ (tỷ đồng) | Tỷ lệ nợ xấu (%) | Tốc độ tăng (%) 2009 45.000 10 200,3 Nguôn: Nhóm tác giả tổng hợp từ báo cáo NHNN vào khoảng 256.000 tỷ đồng, tương đương 10% Thứ hơi, ng xấu chủ yếu là nợ có tài sản đảm tổng dư nợ tín dụng toàn ngành, đến tháng bảo. Theo số liệu tính đến cuối tháng 5/2012 12/2012 tỷ trọng nợ xấu không đổi nhưng quy của Cơ quan Thanh tra, Giám sát Ngân hàng, mô nợ xấu đã tăng đến khoảng 280.000 tỷ 84% nợ xấu của hệ thống ngân hàng được đồng, đạt đỉnh cao về nợ xấu tại Việt Nam.
đảm bảo bằng tài sản thế chấp và tổng giá trị của các tài sản thế chấp này bằng 135% giá Tuy nhiên, những con số tổng quan đó chưa trị nợ xấu (NHNN, 2012). Nhưng trong thực phản ánh được toàn bộ bức tranh về nợ xấu tế việc giải quyết tài sản đảm bảo này đang của các NHTM, mà cần phải nhìn vào cơ cấu gặp nhiều khó khăn, trong đó có khung pháp nợ xấu mới có thể thấy được nguyên nhân gốc lý về xử lý tài sản bảo đảm. Khâu này mất rễ của nợ xấu để có hướng xử lý thích hợp. nhiều thời gian và chi phí do các tranh chấp, bất đồng về lợi ích giữa các bên liên quan đến Thứ nhất, nợ xấu tập trung vào các doanh thủ tục tố tụng như: cách thức định giá trị tài nghiệp nhà nước.
Để án tái cấu trúc doanh sản phát mãi, quy trình đấu giá, thủ tục, tính nghiệp nhà nước của Bộ Tài chính năm 2012 hợp lý, hợp pháp của loại tài sản. Khó khăn nêu rõ dư nợ của 80/96 tập đoàn, tổng công ty trong xử lý tài sản thu hồi nợ dẫn đến việc xử nhà nước đến cuối 2010 là 872.860 tỷ đồng, lý nợ xấu còn phức tạp và gian nan. bằng 1,6 lần vốn chủ sở hữu. Tính đến tháng 9/2011 dư nợ cho vay của các doanh nghiệp nhà Thứ ba, nợ xấu tập trung vào bất động sản nước lớn tại các NHTM đạt trên 415.000 tỷ và chứng khoán là hai lĩnh vực hiện thời đồng, tương đương gần 17% tổng dự nợ tín dụng đang có tính thanh khoản kém.
Bất động sản tại các ngân hàng (nợ vay của 12 tập đoàn kinh và chứng khoán là hai lĩnh vực nhạy cảm tế nhà nước lên đến gần 218.740 tỷ đồng) điển với sự thay đổi về kinh tế vĩ mô. Vì vậy, hình như: Tập đoàn Dầu khí (PVN - 72.300 việc thị trường bất động sản đóng băng trong tỷ), Điện lực (EVN - 62.800 ty déng), Than va nhiều năm qua và sự sụt giảm của thị trường khoáng sản (Vinacomin - 19. Với số chứng khoán đã tác động không nhỏ đến khả liệu trên, nợ xấu của các tập đoàn, tổng công ty năng trả nợ cho các khoản đầu tư vốn cho hai trong hệ thống ngân hàng sẽ chiếm tới 30-35% lĩnh vực nêu trên. Dư nợ xấu trong lĩnh vực tổng dư nợ của khối này (Vũ Hạnh, 2012).
bất động sản tính đến 31/10/2012 được công bế khoảng 28.000 tỷ đồng, dư nợ xấu chiếm Như vậy, các NHTM đã tập trung cho vay quá 13,5% (Lệ Chi, 2012) cao hơn tỷ lệ nợ xấu nhiều vào các doanh nghiệp nhà nước, trong chung rất nhiều. Số liệu về nợ xấu của hai khi các đơn vị này đầu tư ngoài ngành tràn lan, lĩnh vực này còn chưa thống nhất, cập nhật. không kiểm soát dẫn đến kinh doanh không Chính vì vậy, nợ xấu trong hai lĩnh vực này hiệu quả. Đây là một trong những nguyên cần phải đánh giá một cách khách quan và nhân chính dẫn đến nợ xấu như hiện nay.
thực chất để có giải pháp căn cơ, để quyết congnoe gân hàng Số 73 ®Tháng 4/2012 >>>>> NỢ XẤU định xem có nên hỗ trợ các doanh nghiệp bất xúc tiến thương mại, tim kiếm thị trường đầu động sản, kịp thời tạo đòn bẫy kích thích sự ra, ổn định nguyên vật liệu đầu vào, ưu đãi “rã băng” của bất động sản cũng như sự “ấm đầu tư. giúp doanh nghiệp phát huy nội lực lên” của thị trường chứng khoán nhằm tạo vượt qua khó khăn và ổn định kinh doanh để điều kiện giải quyết nợ xấu. trả nợ; (ï¡) Mạnh dạn cơ cấu nợ, giãn thời gian trả nợ hoặc khoanh nợ cho doanh nghiệp, giúp Ngoài nguyên nhân nền kinh tế thế giới suy doanh nghiệp duy trì được thanh khoản và thoái, nền kinh tế trong nước bị ảnh hưởng dẫn nguồn vốn nhất định đáp ứng nhu cầu hoạt đến hàng tồn kho cao, các doanh nghiệp không động. Mặc dù, đây là phương án chỉ đơn thuần có khả năng trả nợ, số liệu về tổng nợ xấu và nợ kéo giãn thời gian trả nợ nhưng có tác động xấu trong các lĩnh vực đặc thù đã để cập ở trên tích cực giúp doanh nghiệp dần ổn định hoạt còn cho thấy nợ xấu tăng nhanh trong giai đoạn động để có cơ hội vượt qua khó khăn đủ khả 2009-2012 là hậu quả của: () Nền kinh tế tăng năng trả nợ gốc va lãi cho ngân hàng; (iii) Cần trưởng cao với chính sách tiển tệ nới lỏng trước đẩy nhanh hạ lãi suất cho vay không chỉ cho năm 2007, chính sách kích cầu nhằm giảm tác các món vay mới mà còn cho toàn bộ các món động của suy giảm kinh tế năm 2009; (ii) Cac vay cũ, đặc biệt là nên mớ rộng các đối tượng ngân hàng chưa coi trọng đúng mức hoạt động và ngành nghề được hỗ trợ chứ không riêng các quản trị.
Một số tổ chức tín dụng nóng vội áp lĩnh vực xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp dụng chiến lược tăng trưởng tín dụng nhanh phụ trợ và không chỉ “trên cơ sở khả năng trong khi năng lực quản trị rủi ro còn nhiều hạn tài chính, xem xét giảm lãi suất cho vay” như chế và chậm cải thiện, đặc biệt là các NHTM Thông báo số 198/TB/NHNN ngày 09/7/2012. cổ phần mới chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị Việc giảm lãi suất cho vay có tác dụng đối với dẫn đến tốc độ nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ nhiều doanh nghiệp trên thị trường, đặc biệt gi- tăng của dư nợ tín dụng (Vũ Minh, 2012). Cụ ảm gánh nặng chi phí vốn, kích thích các doanh thể, việc quản trị, điều hành hoạt động tín dụng nghiệp duy trì quy mô sản xuất cũ và có thể xây tại một số tổ chức tín dụng còn bất cập như: dựng thêm nhà xưởng mới hoặc mua thêm máy công tác thẩm định, quyết định cho vay, kiểm móc thiết bị mới, mở rộng năng lực sản xuất. tra sử dụng vốn vay, giám sát tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng chưa được thực Để nâng cao năng lực quản trị của các ngân hàng, hiện tốt từ đó dẫn đến tình trạng không quản lý đặc biệt là các ngân hàng trong điện phải tái cấu chặt chẽ các khoản vay dẫn đến sử dụng vốn sai trúc, nhóm tác giả để nghị chỉnh sửa Dự thảo mục đích.
Khâu phân tích, đánh giá, phân loại Thông tư của NHNN hướng dẫn Nghị định thay khách hàng, lĩnh vực kinh doanh chưa sát với thế Nghị định 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4/2007 thị trường để có biện pháp ứng xử kịp thời. Việc về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của đánh giá tài sản đảm bảo cao hơn giá trị thực tế, NHTM theo hướng “Tổng mức sở hữu cổ phần của nhận tài sản đảm bảo không đây đủ tính pháp các nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan lý, đang tranh chấp dẫn tới khó xử lý, phát mại của các nhà đầu tư nước ngoài đó vượt quá 30%, hoặc khi phát mại được thì giá trị thu hồi thấp. cụ thể cho phép một số ngân hàng nước ngoài có tiém lực tài chính mạnh, quản trị kinh doanh tốt Giải pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống mua lại những ngân hàng có quản trị yếu kém, ngân hàng thương mại Việt Nam tỷ lệ nợ xấu cao hoặc NHNN không chỉ khuyến khích các NHTM thật sự mạnh mua lại những Để hỗ trợ thanh khoản giảm thiểu khó khăn ngân hàng yếu kém mà còn đế xuất xây dựng cho các doanh nghiệp, có thể thực hiện: (¡) Giảm hành lang pháp lý thúc đẩy thực hiện các giải thuế thu nhập doanh nghiệp, sác khoản phí, pháp tái cơ cấu theo dé án cơ cấu lại hệ thống lệ mhí. hoặc giãn thời gian nộp thuế, phi và lệ các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” (theo pia “ek VOL chs 4oe AOA 25 8 EC, ho ira Ono tae, quyết định 254/QĐ-Ttg ngày 01/3/2012).