Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG KHAI THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP PHẢI THI HÀNH ÁN CHƯA CÓ ĐIỀU KIỆN THI HÀNH 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của công khai thông tin của doanh nghiệp phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành 1.1 Khái niệm “công khai thông tin doanh nghiệp phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành” a. Khái niệm về người phải thi hành án Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành. Đồng thời, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự quy định những bản án, quyết định được thi hành theo Luật này bao gồm: “Điều 2. Bản án, quyết định được thi hành Những bản án, quyết định được thi hành theo Luật này bao gồm: 1.
Bản án, quyết định quy định tại Điều 1 của Luật này đã có hiệu lực pháp luật: a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; b) Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; 8 đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án; e) Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; g) Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản. Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị: a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc; b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.8-10] Như vậy, theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có thể là doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, quyết định xử lý vụ việc của Hội đồng xử lý cạnh tranh, phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại và đã được cơ quan Thi hành án dân sự ra Quyết định thi hành án. Khái niệm “người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành” + Quan niệm “chưa có điều kiện thi hành án”: “Điều kiện” theo Từ điển bách khoa Việt Nam [17, tr 126] là một danh từ có nghĩa là: (i) cái cần phải có để cho một cái khác có thể hoặc có thể xảy ra; (ii) điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một điều nào đó; (iii) những gì có thể tác động đến tính chất, sự tồn tại hoặc sự xảy ra của một cái gì đó. Theo đó, thuật ngữ “điều kiện thi hành án” được hiểu là cái cần phải có để có thể thực hiện nghĩa vụ thi hành án đã được tuyên trong bản án, quyết 9 định của Tòa án.
Thuật ngữ “chưa có điều kiện thi hành” có thể hiểu là: chưa đủ khả năng hoặc điều kiện cần thiết để thực hiện nghĩa vụ thi hành án. + Quan niệm “việc thi hành án dân sự” Việc sử dụng thuật ngữ Án dân sự hay Việc thi hành án dân sự là vấn đề tiên quyết nhằm xác định phạm vi công việc cơ quan Thi hành án dân sự chưa hoàn thành tại các thời điểm báo cáo với cơ quan có thẩm quyền. Việc sử dụng không thống nhất thuật ngữ này dẫn đến sự hiểu khác nhau về công việc cơ quan Thi hành án dân sự phải đảm nhận, từ đó dẫn đến hiểu không đúng về số lượng công việc cơ quan Thi hành án dân sự phải thực hiện trong mỗi kỳ báo cáo và số lượng công việc cơ quan Thi hành án dân sự đã hoàn thành, chưa hoàn thành. Bên cạnh đó, việc không xác định đúng thuật ngữ này sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn, trong số liệu báo cáo của cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan hữu quan trước các cơ quan có thẩm quyền.
Ví dụ: cơ quan Thi hành án dân sự báo cáo mỗi năm thi hành trên 600 nghìn việc (án dân sự theo cách hiểu hiện nay), nhưng Toà án lại báo cáo mỗi năm xét xử trên 200 nghìn vụ án. Vậy, vấn đề đặt ra là Toà án chỉ xét xử trên 200 nghìn vụ án thì cơ quan Thi hành án dân sự lấy đâu ra số án lớn như vậy để thi hành. Do đó, có thể thấy việc sử dụng thuật ngữ Việc thi hành án dân sự hay Án dân sự trong thi hành án dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng. Theo qui định tại Điều 6, Điều 7 của Nghị định số 62/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự, thì Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có thể ra một hoặc nhiều quyết định thi hành án đối với một bản án, quyết định được thi hành.
Mặt khác, theo qui định tại khoản 9, Điều 3 của Luật Thi hành án dân sự, thì : “Mỗi quyết định thi hành án là một việc thi hành án”. Vì vậy, khi thống kê kết quả thi hành án dân sự theo quy định tại phần 1, mục I, ban hành kèm theo Thông tư số 08/2015/BTP ngày 10 26/6/2015 của Bộ Tư pháp thì đơn vị tính trong báo cáo được quy định là: Việc và 1. Do đó, về nguyên tắc, một bản án, quyết định, căn cứ vào tình hình thực tế Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có thể ra một hay nhiều quyết định thi hành án dân sự. Nhưng ít nhất phải có 02 quyết định thi hành án, trong đó 01 quyết định để thi hành phần chủ động về án phí, tiền phạt., 01 quyết định để thi hành phần nghĩa vụ theo yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án.
Sau khi ra quyết định thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự vào sổ thụ lý và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành. Như vậy, căn cứ để Chấp hành viên tổ chức thi hành án là quyết định thi hành án. Bản án, quyết định được đưa ra thi hành đã chuyển hóa thành Việc thi hành án dân sự, nên trong thi hành án dân sự chỉ có khái niệm “Việc thi hành án dân sự”, mỗi một quyết định thi hành án dân sự là một việc thi hành án dân sự mà không có khái niệm “Án dân sự”. Mặt khác, trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự, để tổ chức thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan, Thủ truởng cơ quan Thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án để làm căn cứ tổ chức thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó.
Như vậy, các quyền, nghĩa vụ phải thực hiện luôn gắn liền với mỗi một quyết định thi hành án dân sự. Về nội dung các quyền nghĩa vụ trong mỗi bản án, quyết định, hầu hết là các quyền, nghĩa vụ về tài sản và các quyền, nghĩa vụ về hành vi. Do đó, trong thi hành án dân sự sử dụng thuật ngữ “Việc thi hành án dân sự” là phù hợp. Vì vậy, Việc thi hành án dân sự là quyết định thi hành án chủ động hoặc theo yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự nhằm đưa một phần hay toàn bộ các khoản đã tuyên trong bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực hoặc chưa có hiệu lực nhưng được thi hành ngay hoặc các quyết 11 định khác theo quy định của pháp luật thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan Thi hành án dân sự trên thực tế.
Cách hiểu như trên phù hợp với nội dung, bản chất và thực tiễn công tác thi hành án dân sự, vì “Án dân sự” chỉ bản án, quyết định dân sự của Toà án, nhưng trong thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự không chỉ thi hành bản án, quyết định dân sự mà còn thi hành các quyết định về dân sự trong các bản án hình sự, hành chính, kinh doanh thương mại, phá sản; quyết định của Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, nên việc sử dụng thuật ngữ “Án dân sự” trong thi hành án dân sự không bao trùm hết loại việc cơ quan Thi hành án dân sự phải tổ chức thi hành. Theo đó, trong thi hành án dân sự cần sử dụng thuật ngữ “Việc thi hành án dân sự” mà không sử dụng thuật ngữ “Án dân sự” như đang dùng hiện nay. Do đó, “việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành” có thể hiểu là: Việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành là việc thi hành án dân sự mà chưa đáp ứng được đòi hỏi cần và đủ để có thể thi hành xong trên thực tế.