Chương 1 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG CễNG GIÁO Ở VIỆT NAM TỪ ĐẦU CHO TỚI NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX 1.1 Bối cảnh lịch sử của vấn đề Cụng giỏo ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX.1 Sơ lược tỡnh hỡnh Việt Nam thế kỷ XIX Bƣớc vào thế kỷ XIX, tỡnh hỡnh thế giới và khu vực Đông Nam Á cú nhiều biến chuyển mạnh mẽ. Chủ nghĩa tƣ bản phƣơng Tây trên đà trƣởng thành sau các cuộc cách mạng tƣ sản, dần bƣớc mạnh sang hỡnh thỏi chủ nghĩa đế quốc, tiếp tục bành trƣớng ảnh hƣởng toàn thế giới giữa thế kỷ XIX. Cỏc quốc gia phong kiến ở Chõu Á đó sớm trở thành miếng mồi bộo bở của nhiều thế lực thực dõn: Ấn Độ bị xâu xé bởi nhiều đế quốc nhƣ Bồ Đào nha, Anh, Phỏp…; Trung Quốc rộng lớn cũng chịu chung số phận của các nƣớc phong kiến Á Đông khi đó, đến giữa thế kỷ XIX, triều đỡnh Món Thanh đó phải mở toang cỏnh cửa “bế quan tỏa cảng” sau Chiến tranh Nha phiến (1840) bằng Hiệp ƣớc Nam Kinh (1842) với thực dân Anh, Hiệp ƣớc Hoàng phố (1844) với Phỏp…; Từ cuối thế kỷ XVIII, thƣơng thuyền và đạo Thiờn Chỳa của các nƣớc Tây Âu tăng cƣờng ra vào cỏc cửa cảng Nhật Bản. Năm 1542 đó cú ngƣời Bồ Đào Nha; sau đó là Tây Ban Nha rồi Hà Lan, sau nữa là Anh, Mỹ, Phỏp, v.
lui tới đất Nhật. Lo sợ nguy cơ xâm lƣợc của nƣớc ngoài qua việc thƣơng mại và truyền đạo Thiờn Chỳa, chớnh quyền Nhật Bản nhiều lần cấm đạo và đóng cửa cảng. Tuy vậy ngƣời Hà Lan đó cú ảnh hƣởng quan trọng đến tri thức và văn minh Nhật Bản trƣớc hết. Sau đó Hoa Kỳ lại là nƣớc đầu tiờn ký kết thoả ƣớc mở cửa cảng với Nhật năm 1854 và thời kỳ tiếp xỳc toàn diện của Nhật Bản với các nƣớc phƣơng Tây đƣợc thực hiện.
Đó cũng chính là thời điểm Pháp đang xâm lƣợc Việt Nam… Ở khu vực Đông Nam Á: Inđônêxia từ thế kỷ XVII đó bị đô hộ bởi Hà Lan; Mianma bị thực dân Anh xâm lƣợc năm 1824; Malaixia từ năm 1511 đó 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bị Bồ Đào Nha xâm chiếm và độc quyền buôn bán ở Malacca, cuối thế kỷ XVI đế quốc Anh và Hà Lan nhảy vào tranh chấp quyền lợi với ngƣời Bồ, Hiệp ƣớc Anh-Hà Lan năm 1824 đánh dấu sự nhƣợng bộ của Hà Lan với Anh ở Malaixia để đƣợc độc quyền ở Inđônêxia; Xiêm La hay Thái Lan có bƣớc phát triển đặc biệt, năm 1684 Xiờm từng ký với Phỏp một hiệp ƣớc thƣơng mại. Nhƣng Pháp lại âm mƣu làm đảo chính và bị đuổi khỏi nƣớc này. Trong khi ngƣời Bồ, Hà Lan, Phỏp. bị mất dần ảnh hƣởng ở Xiêm thỡ ngƣời Anh lại tăng cƣờng sức ép với chính quyền nƣớc này.
Đầu thế kỷ XIX 3 hiệp ƣớc thƣơng mại Anh Xiêm đƣợc ký kết (1820,1839,1855. Đồng thời Xiêm cũng ký liờn tiếp hai hiệp ƣớc với Mỹ các năm 1833,1856. Ngay sau đó Xiêm lại ký nhiều hiệp ƣớc nữa với 13 nƣớc khác nhƣ Thuỵ Sĩ, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Đức, Đan Mạch, Thuỵ Điển, ý, Nhật, Nga, v. Xiêm đó buộc phải thực hiện chớnh sỏch mở toang cửa với hầu hết cỏc nƣớc phƣơng Tây.
Từ đấy Xiêm vẫn luôn tồn tại nhƣ một vƣơng quốc độc lập… Cho đến trƣớc cuộc xâm lƣợc của thực dân Pháp, Việt Nam dƣới sự cai trị của triều đỡnh phong kiến Nguyễn đó cú hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển. Tỡnh hỡnh kinh tế: Nền kinh tế truyền thống của Việt Nam cơ bản vẫn dựa trên sản xuất nông nghiệp lúa nƣớc. Nhà Nguyễn ý thức rừ vai trũ của kinh tế nụng nghiệp đối với sự ổn định và phát triển của đất nƣớc, nên đó đề ra nhiều biện pháp tích cực nhằm mở rộng diện tích canh tác đồng thời giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xó hội: khuyến khích khai hoang, quy định rừ ràng mức thƣởng đối với những ngƣời đi khai khẩn, chia ruộng đất bỏ hoang cho dân nghèo… Bờn cạnh biện phỏp khai hoang, phục hóa, Nhà nƣớc cũn tổ chức đào thêm kênh rạch, cải tạo đất nhằm tăng thêm diện tớch canh tỏc. Riờng ở Nam Kỳ, trong 30 năm cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đó cho đào đắp một số kờnh mới, nhƣ kênh Cột Cờ (1875), kờnh Trà ễn (1876), kờnh Chợ Gạo (1877), kờnh Phỳ Tỳc (1879), kờnh Xanh Ta (1880) [152;94].
Nhờ đó, diện tích đất tăng lên nhanh chóng. Nếu năm 1847, tổng diện tích đất trực trƣng đo đạc đƣợc là 4,2 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triệu mẫu thỡ đến giữa năm 1860, diện tích đó đó tăng lên tới 4,6 triệu mẫu [148;29]. Tớnh riờng ở Nam Kỳ, trong khoảng 10 năm từ 1881 đến 1890 diện tớch ruộng đất đó tăng thêm khoảng 300.000ha (tức từ 1. Tuy nhiờn, việc gia tăng ruộng đất cũng khụng thể bự lại đƣợc với tỡnh trạng dân lƣu tán, ruộng đất bị bỏ hoang do thiờn tai, mất mựa, và nạn giặc ngoại xâm.
Năm 1866, theo báo cáo của cỏc tỉnh, cả nƣớc co 900.000 mẫu ruộng bỏ hoang. Năm 1882, riêng ở Thanh Húa diện tích đất bỏ hoang lờn tới 36. Bộ sỏch Đại Nam thực lục cú chộp rất nhiều lần đê vỡ, đặc biệt ở Bắc Kỳ, nơi có hệ thống thủy văn khá phức tạp. Trong suốt thế kỷ XIX, hầu nhƣ năm nào cũng cú vỡ đê.
Vỡ thế hàng vạn mẫu ruộng bị bỏ hoang, hàng vạn nụng dõn phải cầm nhƣợng ruộng đất, hoặc bỏ làng bỏ ruộng ra đi tha phƣơng cầu thực. Sản xuất nụng nghiệp mang nặng tớnh chất độc canh, tuyệt đại bộ phận diện tích canh tác đƣợc đem trồng lỳa. Do kĩ thuật canh tỏc lạc hậu nờn sản xuất lúa đạt mức thấp, khoảng 9 tạ/ha[77;36]. Dƣới thời Nguyễn, thủ công nghiệp nƣớc ta bao gồm hai bộ phận: thủ công nghiệp nhà nƣớc và thủ công nghiệp dân gian.
Thủ công nghiệp Nhà nƣớc có vị trí rất quan trọng, đó là các cơ sở sản xuất thủ công do nhà nƣớc trực tiếp tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất và phân phối sản phẩm, gọi là các quan xƣởng. Quan xƣởng tập trung nhiều nhất ở kinh đô Huế, tiếp đến là Bắc Thành (Hà Nội) và Gia Định thành (Sài Gũn) và cỏc trung tâm chính trị - hành chính địa phƣơng. Về quản lý, ban đầu các quan xƣởng thuộc quyền quản lý trực tiếp của Vũ khố (cơ quan quản lý kho tàng của nhà nƣớc), đến năm 1829 chuyển toàn bộ sang bộ Công, một số bộ có liên quan nhƣ bộ Hộ (phụ trách về cấp phát nguyên vật liệu, chế độ lƣơng bổng), bộ Binh (phụ trách việc điều động binh lính làm việc tại các quan xƣởng)… Quan xƣởng tập trung vào những ngành nghề sản xuất do nhà nƣớc độc quyền hoặc đáp ứng những nhu cầu riêng của nhà nƣớc, của triều đỡnh. Một số ngành nghề tiờu biểu nhƣ: đúc tiền, đúc thuyền và đặc biệt là đúc vũ khí.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bờn cạnh các xƣởng thủ công do Nhà nƣớc quản lý, một số xƣởng thủ cụng của tƣ nhân cũng có những biến đổi. Do tác động của chính sách vơ vét và xuất cảng lỳa gạo của tƣ bản Phỏp, cỏc cơ sở chế biến gạo, nhất là ở Nam Kỳ có cơ hội phỏt triển mạnh. Vào đầu những năm 1860, riêng ở khu vực Chợ Lớn và Bỡnh Tõy cú khoảng 240 nhúm thợ hàng xỏo, chuyờn xay, gió gạo bằng chõn mà khụng cú sự hỗ trợ của bất cứ một phƣơng tiện mỏy múc nào. Cựng với nghề xay xỏt lỳa gạo, nghề gốm và nhất là nghề làm gạch ngúi và cỏc vật liệu xõy dựng cũng có điều kiện mở mang hơn so với trƣớc đây, nhằm đáp ứng nhu cầu xõy dựng nhà cửa, dinh thự và cỏc cụng trỡnh cụng cộng của ngƣời Phỏp.
Ở Sài Gũn- Chợ Lớn, nghề nung gạch ngúi khỏ phỏt triển. Trƣớc năm 1882, mỗi lũ gạch ở Chợ Lớn sản xuất đƣợc trung bỡnh 480. Tổng số gạch sản xuất ở khu vực này hàng năm là 14 triệu viờn. Ở Nam Kỳ, ngoài Sài Gũn- Chợ Lớn cũn cú nhiều cơ sở tại cỏc tỉnh Mỹ Tho, Sa Đéc, Châu Đốc, Bà Rịa, Trà Vinh….
Thủ cụng nghiệp dõn gian Việt Nam giai đoạn này vẫn tồn tại dƣới 2 hỡnh thức chủ yếu: các phƣờng thủ cụng, làng nghề chuyờn nghiệp và loại hỡnh thủ cụng nghiệp với tƣ cách là nghề phụ. Loại hỡnh nghề thủ công nhƣ một nghề phụ tồn tại rất phổ biến, chủ yếu là những nghề đơn giản, ít đũi hỏi kỹ thuật cao. Loại hỡnh cũn lại tập trung chủ yếu ở các khu đô thị (phƣờng hội) và rải rỏc trờn cả nƣớc, đậm đặc hơn ở các vùng đồng bằng và trung du. Cơ cấu ngành nghề và phõn bố hết sức phong phú, đa dạng.
Vớ dụ nghề gốm ở Bỏt Tràng (Gia Lõm), Thổ Hà (Bắc Ninh), Đƣờng Yên, Chu Đậu( Hải Dƣơng); nghề dệt ở Vạn Phúc, La Khê (Hà Đông), Bảo An (Quảng Nam), Bùng (Sơn Tây); nghề đúc ở Đại Bỏi (Bắc Ninh), nghề kim hoàn ở Chõu Khờ (Hải Dƣơng), Đồng Xõm (Thỏi Bỡnh); nghề làm giấy ở Yờn Thỏi (Hà Nội), Phong Khờ (Bắc Ninh); nghề dệt chiếu ở làng Hới (Thỏi Bỡnh), Phỏt Diệm (Ninh Bỡnh) [36;552]. Tuy nhiờn, do tỡnh hỡnh chiến sự diễn ra ngày càng ỏc liệt nờn một số ngành nghề bị đỡnh trệ, thậm chớ sa sỳt, trong đó có nghề trồng dâu, chăn 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tằm, dệt vải. Nhiều sản phẩm vải lụa làm ra khụng cú thị trƣờng tiờu thụ. Đó là chƣa kể tới những khó khăn về thuế mỏ nặng nề và về nguồn nguyờn liệu ngày càng khan hiếm.
Nhỡn chung, vào nửa sau thế kỉ XIX, nền thủ cụng nghiệp nƣớc ta bắt đầu cú những thay đổi do tác động của chiến tranh và các chính sách xâm lƣợc của thực dõn Phỏp. Mặc dự vậy, về cơ bản cơ cấu, kĩ thuật và phƣơng thức sản xuất và tiờu thụ vẫn giống nhƣ ở thời kỳ nửa đầu thế kỉ XIX. Những xƣởng thủ cụng cú qui mụ lớn, cú tớnh chất tiền tƣ bản chủ nghĩa chƣa xuất hiện. Đa số cỏc hoạt động thủ cụng cũn gắn chặt với nụng nghiệp, và tồn tại với tƣ cách là nghề phụ gia đỡnh.
Tuy nhiờn, đây là thời kỳ trung gian, cú ý nghĩa quan trọng để nền thủ cụng nghiệp truyền thống chuẩn bị bƣớc sang một gia đoạn phỏt triển mới trên cơ sở những điều kiện mới về cả ba phƣơng diện: nguồn nguyờn liệu, kĩ thuật sản xuất và thị trƣờng tiờu thụ. Về hoạt động thƣơng nghiệp, với tƣ tƣởng kinh tế trọng nông, nhà Nguyễn ít có những tác động thúc đẩy lĩnh vực kinh tế này phát triển. Trái lại, trong nhiều trƣờng hợp, chính sách của nhà Nguyễn cũn ảnh hƣởng tiêu cực đến sự phát triển của thƣơng nghiệp.