Khóa luận tốt nghiệp ảnh hưởng của dung thông tam giáo đến tình hình chính trị xã hội ở việt nam thời lý trần

Khóa luận tốt nghiệp phân tích ảnh hưởng của dung thông tam giáo đến chính trị xã hội Việt Nam thời Lý Trần, làm rõ vai trò văn hóa tôn giáo.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

73
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận

0.4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

0.5. Kết cấu của khoá luận

1. CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ DUNG THÔNG TAM GIÁO Ở VIỆT NAM THỜI LÝ – TRẦN

1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội thời Lý – Trần

1.2. Những nhiệm vụ chính trị thực tiễn đặt ra

1.3. Những tiền đề tư tưởng cho sự dung thông tam giáo Nho – Phật – Đạo

1.3.1. Khái quát chung về Nho giáo

1.3.2. Khái quát chung về Phật giáo

1.3.3. Khái quát về Đạo giáo

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG ẢNH HƯỞNG NỔI BẬT CỦA DUNG THÔNG TAM GIÁO TRONG LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI THỜI LÝ – TRẦN

2.1. Ảnh hưởng của sự dung thông tam giáo đến đường lối trị nước thời Lý – Trần

2.2. Ảnh hưởng của sự dung thông tam giáo trong việc xây dựng và phát triển giáo dục - khoa cử

2.3. Ảnh hưởng của sự dung thông tam giáo đến việc xây dựng và thực thi phát triển pháp luật

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Dung thông tam giáo và bối cảnh lịch sử thời Lý Trần

Dung thông tam giáo là sự hòa hợp giữa Phật giáo, Nho giáo, và Đạo giáo, tạo nên một hệ tư tưởng đa dạng và linh hoạt. Thời kỳ Lý – Trần (thế kỷ XI – XIV) là giai đoạn vàng son của lịch sử Việt Nam, khi đất nước đạt được sự ổn định về kinh tế, chính trị, và văn hóa. Sự dung thông tam giáo đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tư tưởng chính trịxã hội thời Lý – Trần. Đây là thời kỳ mà Phật giáo chiếm vị trí chủ đạo, nhưng Nho giáoĐạo giáo cũng có những đóng góp đáng kể, tạo nên sự cân bằng trong hệ tư tưởng.

1.1. Điều kiện kinh tế xã hội thời Lý Trần

Thời kỳ Lý – Trần chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nông nghiệp, với các chính sách trọng nông và khuyến nông. Nhà nước phong kiến đã thực hiện nhiều biện pháp để phát triển nông nghiệp, như đắp đê, khuyến khích sản xuất, và thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”. Bên cạnh đó, thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng phát triển, tạo nên một nền kinh tế đa dạng và phong phú. Sự ổn định kinh tế đã tạo tiền đề cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam và sự hòa hợp giữa các tôn giáo.

1.2. Tiền đề tư tưởng cho sự dung thông tam giáo

Sự dung thông tam giáo được hình thành từ những tiền đề tư tưởng sâu sắc. Phật giáo mang lại tinh thần từ bi và giải thoát, Nho giáo đề cao đạo đức và trật tự xã hội, trong khi Đạo giáo hướng đến sự hòa hợp với tự nhiên. Sự kết hợp này đã tạo nên một hệ tư tưởng toàn diện, phù hợp với nhu cầu của xã hội thời bấy giờ. Đặc biệt, Phật giáo đã trở thành nền tảng tinh thần, trong khi Nho giáo đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng bộ máy nhà nước.

II. Ảnh hưởng của dung thông tam giáo đến chính trị xã hội thời Lý Trần

Sự dung thông tam giáo đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến chính trị xã hội Việt Nam thời Lý – Trần. Trong lĩnh vực chính trị, Nho giáo đã góp phần xây dựng hệ thống quan liêu và quản lý nhà nước, trong khi Phật giáoĐạo giáo đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định xã hội và tạo nên sự đoàn kết dân tộc. Sự kết hợp này đã giúp nhà nước phong kiến thời Lý – Trần duy trì được sự ổn định và phát triển bền vững.

2.1. Ảnh hưởng đến đường lối trị nước

Dung thông tam giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến đường lối trị nước thời Lý – Trần. Nho giáo đã cung cấp các nguyên tắc quản lý nhà nước, trong khi Phật giáoĐạo giáo đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đạo đức xã hội. Sự kết hợp này đã giúp các vua chúa thời Lý – Trần xây dựng được một chính sách trị nước linh hoạt và hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của xã hội đương thời.

2.2. Ảnh hưởng đến giáo dục và khoa cử

Sự dung thông tam giáo cũng có ảnh hưởng lớn đến hệ thống giáo dục và khoa cử thời Lý – Trần. Nho giáo đã trở thành nền tảng của giáo dục, với việc tổ chức các kỳ thi tuyển chọn nhân tài. Bên cạnh đó, Phật giáoĐạo giáo cũng đóng góp vào việc phát triển văn hóa và tư tưởng, tạo nên một nền giáo dục toàn diện. Sự kết hợp này đã giúp đào tạo ra một đội ngũ trí thức có năng lực, đóng góp vào sự phát triển của đất nước.

III. Giá trị và ý nghĩa của dung thông tam giáo trong lịch sử Việt Nam

Sự dung thông tam giáo không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ Lý – Trần, mà còn để lại nhiều bài học quý giá cho các thế hệ sau. Sự hòa hợp giữa Phật giáo, Nho giáo, và Đạo giáo đã tạo nên một nền tảng tư tưởng vững chắc, giúp Việt Nam vượt qua nhiều thách thức lịch sử. Đây cũng là minh chứng cho sự linh hoạt và sáng tạo của dân tộc Việt Nam trong việc tiếp thu và phát triển các giá trị văn hóa ngoại nhập.

3.1. Bài học về sự hòa hợp tôn giáo

Sự dung thông tam giáo là một bài học quý giá về sự hòa hợp giữa các tôn giáo. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc nghiên cứu và áp dụng các giá trị của dung thông tam giáo có thể giúp Việt Nam xây dựng một xã hội đa văn hóa, đa tôn giáo, nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc. Đây cũng là cơ sở để phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

3.2. Ý nghĩa trong việc bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc

Sự dung thông tam giáo đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển văn hóa Việt Nam. Trong quá trình hội nhập và giao lưu quốc tế, việc nghiên cứu và phát huy các giá trị của dung thông tam giáo có thể giúp Việt Nam xây dựng một nền văn hóa độc đáo, vừa tiếp thu tinh hoa thế giới, vừa giữ gìn được bản sắc dân tộc. Đây cũng là cơ sở để phát triển một xã hội hài hòa và bền vững.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp ảnh hưởng của dung thông tam giáo đến tình hình chính trị xã hội ở việt nam thời lý trần

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho nền văn minh Đại Việt, vì vậy kinh tế - xã hội nói chung, thủ công nghiệp nói riêng, có bước phát triển đáng kể so với trước đó. Kỹ thuật thủ công nghiệp góp phần đảm bảo mọi nhu cầu thiết yếu 4 của đời sống xã hội: ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, sinh hoạt.Thời kỳ này, sản phẩm của nghề dệt cũng tạo nên nét văn hóa đặc sắc của ĐạiViệt. Nghề dệt vốn đã nổi tiếng với những sản phẩm: tơ tằm, lông sợi, tơ chuối, đay gai. Làng Nghi Tàm nổi tiếng với nghề dâu tằm, có công chúa Quỳnh Hoa (con vua Lý Thần Tông) làm tổ sư nghề dệt.

Công chúa xin vua cha ra tu ở chùa Đống Long (tức chùa Kim Liên) và tại đây, Công chúa đã dạy cho dân làng biết nghề tằm tang canh cửi. Thời kỳ này, nghề gốm đã sản xuất được khá nhiều loại hình sản phẩm phục vụ đắc lực cho công cuộc kiến thiết đất nước, tư liệu sinh hoạt, trang trí xa xỉ, xây dựng chùa chiền. Thời ấy, các làng gốm đã nổi tiếng như: Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội). Có thể nói, gốm Lý - Trần là đỉnh cao của nghệ thuật gốm trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Nghệ thuật đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc khắc hoạ nghệ thuật của các công trình Phật giáo. Dưới thời Lý Trần, các nghề thủ công mỹ nghệ đã tiến một bước khá dài. Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Đại Việt được phong kiến nước ngoài coi là báu vật. Khắp nông thôn miền xuôi, đâu cũng có thợ rèn, thợ đúc.

Ở miền núi, nghề khai mỏ rất phát đạt, hiện tượng mua bán nhân công cũng đã xuất hiện. Một sử gia Trung Quốc viết: “Giao Chỉ có cái lợi mỏ vàng, mới mua dân về làm nô.” Các nghề mộc, nề, khắc chạm, sơn thếp cũng phát triển đáp ứng cho nhu cầu xây dựng nhiều chùa chiền của nhà nước và nhân dân. Ngoài ra, nước ta lúc đó còn có nghề in giấy, in bản gỗ đã ra đời. Sau khi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long, nhiều làng nghề làm giấy đã xuất hiện ở kinh thành như làng Yên Thái, Yên Hoà (làng giấy), làng Hồ, làng Nghè (Nghĩa Đô).

Sản phẩm đó phục vụ cho học hành, thi cử và để viết kinh Phật. Từ đó, hình thành những trung tâm buôn bán lớn trong nước và ngoài nước, như Thăng Long, Vân Đồn. Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của sản xuất và trao đổi, mạng lưới giao thông thuỷ, bộ, hệ thống trạm dịch trong thời Lý – Trần cũng được mở 5 mang thêm. Từ Thăng Long toả đi các nơi có cả các hệ thống đường thuỷ, bộ; nhất là trên các đường sông và ven biển đã có nhiều thuyền lớn đi lại tấp nập.

Trong giai đoạn này, "có thể nói, bộ mặt kinh tế của nước Đại Việt đã phát triển với một sinh lực dồi dào và đạt đến trình độ khá cao”[26, 134]. Vấn đề ruộng đất là vấn đề quan trọng bậc nhất không chỉ trong thời kì này mà ở các thời kỳ sau này của xã hội phong kiến Việt Nam. Đối với quốc gia phong kiến như Đại Việt thời Lý Trần có nền kinh tế là nông nghiệp lúa nước thì cơ sở tạo nên chế độ kinh tế đó chính là chế độ sở hữu ruộng đất. Đặc điểm của quan hệ sản xuất của chế độ phong kiến Việt Nam nói chung và của thời kỳ Lý – Trần nói riêng là chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nước.

Những hình thức chia ruộng gồm có các loại ruộng công làng xã, điền trang thái ấp, ruộng tư và ruộng của nhà chùa; nhưng hình thái tư hữu về ruộng đất cũng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong chế độ sở hữu lúc bấy giờ. Chế độ sở hữu ruộng đất thuộc về nhà nước có liên quan trực tiếp tới chế độ canh tác dựa trên cơ sở thuỷ lợi. Dân tộc Việt Nam từ trước đều gắn với nền nông nghiệp lúa nước. Nhận biết được sự cần thiết của vấn đề thuỷ lợi, nhà Lý vào năm 1108 đã huy động nhân dân đắp đê Cơ Xá và đặc biệt là công trình đắp đê Đỉnh Nhĩ hay còn gọi là đê Quai vạc dưới thời Trần.

Chính hình thức sở hữu ruộng đất của nhà nước đã quy định địa vị và quan hệ qua lại của các tầng lớp xã hội trong sản xuất , quy định hình thức phân phối sản phẩm của xã hội trong xã hội phong kiến. Hay nói cách khác, chế độ này khiến cho sự phân hoá giai cấp hình thành nhưng sự hình thành của giai cấp địa chủ chưa thực sự mạnh mẽ như dưới thời Trần. Đầu thời Trần , chế độ tư hữu về ruộng đất càng ngày càng gia tăng. Thời kỳ này, nhà nước cho phép bán ruộng đất công thành ruộng đất tư.

Thích hợp với quan hệ kinh tế đó là một xã hội có kết cấu giai cấp còn tương ứng. Giai cấp phong kiến thống trị là tầng lớp quý tộc và quan liêu, đại biểu là vua nắm quyền hành trong triều đình và xã hội. Tiếp đó là tầng lớp địa chủ lúc đầu còn ít nhưng về sau tăng dần lên. 6 Tăng lữ cũng là tầng lớp xã hội đáng kể và là lực lượng đông đảo từ cuối Bắc thuộc đến đầu thời Trần.

Nhà nước đã dùng tầng lớp này và tầng lớp Nho sĩ mới xuất hiện để duy trì sự ổn định xã hội và củng cố quyền lực triều đình. Xuất hiện tầng lớp trí thức, chủ yếu bao gồm nhà sư và nhà Nho. Nhà sư trưởng thành từ hai dòng thiền Tinida lưu chi và Vô ngôn thông. Nhà Nho trưởng thành từ giáo dục – khoa cử Nho học và trong đó có nhiều người tham gia bộ máy hành chính của nhà nước phong kiến quân chủ.

Các nhà sư còn học cả các kinh sách của Nho giáo, của Đạo gia. Đông đảo quần chúng nhân dân bị thống trị bao gồm nông dân các làng xã lĩnh canh công điền, công thổ hoặc ruộng của địa chủ , nông nô, nô tỳ, thợ thủ công, lái buôn,. Một điều đáng chú ý ở thời kỳ này là sự trưởng thành của tầng lớp địa chủ và tầng lớp nho sĩ. Sự trưởng thành này diễn ra trên cơ sở chế độ đại điền trang dần dần nhường bước cho chế độ tư hữu ruộng đất.

Nó làm cho cơ cấu bộ máy nhà nước phong kiến từ thời Lý tới Trần có nhiều thay đổi lớn. Nho sĩ dần dần thay thế những chức vụ quan trọng của nhà nước mà trước đó do tầng lớp quý tộc nắm giữ. Đến cuối thời Trần, tầng lớp nho sĩ quan liêu cũng đã trở thành chỗ dựa cho nhà vua trong việc trị nước. Xã hội Đại Việt từ thế kỷ X trở đi, nhất là thời Lý - Trần, kinh tế thương nghiệp phát triển lên một bước đáng kể,có những thành tựu rực rỡ.

Tiền tệ xuất hiện và sử dụng rộng rãi. Giao thông vận tải luôn được cải tạo và mở rộng, góp phần tích cực cho ngoại thương phát triển. Từ trước, thuyền buôn các nước phương Nam và phương Tây như Diệp Điều (Gia va), Thiện (Miến Điện), Thiên Túc (Ấn Độ), An Tức (I răng), Đại Tấn (Đông La Mã) đều đã qua lại buôn bán trên vùng biển nước ta. Đến thời Lý - Trần, thuyền buôn các nước không những chỉ có qua lại ghé đậu mà còn thực sự buôn bán trực tiếp với nước ta [29, 185].

Buôn bán giữa Đại Việt và các nước khác lúc đó không chỉ là sự giao lưu kinh tế, mà kéo theo đó là giao 7 lưu văn hóa, tôn giáo. Chắc chắn Đại Việt lúc đó phải có sự giao lưu Phật giáo trong nước và khu vực, đặc biệt với các nước láng giềng: Trung Quốc, Chiêm Thành và xa hơn nữa là: Tây Vực, Miến Điện, Gia va, Ấn Độ. Năm 1187, “Có nhà sư Tây Vực đến. Vua xuống chiếu hỏi vua ấy có tài năng gì, trả lời có tài sai bảo được hổ.

Bảo thử tài, không hiệu nghiệm "[5, 878]. Năm 1311, “Lấy con gái của sư người Hồ là Chu Di Bà Lam vào cung. Nhà sư này đời Nhân Tôn đã sang nước ta. Dưới thời Trần, Tá Thánh thái sư Chiêu Văn Vương Nhật Duật là người rất giỏi, thường giao lưu với nước ngoài, am hiểu phong tục các nước, lại nói được tiếng các nước: Lại đến chơi chùa Tường Phù, nói chuyện với sư người Tống, ngủ lại rồi về.

Phàm là người nước ngoài đến kinh sư, thường kéo đến chơi nhà, nếu là người Tống thì ngồi nghế đối nhau, đàm luận suốt ngày, là người Chiêm hay người Man khác đều theo quốc tục của họ mà tiếp đãi [5, 558]. Đặc biệt, quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và Tống đã tạo điều kiện để du nhập kinh Phật từ Trung Quốc, làm cho Phật pháp phát triển. Các nhà sư Đại Việt lúc đó cũng chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng thiền Tông Trung Quốc. Chẳng hạn như phái thiền Vô Ngôn Thông thời Lý, phái Thảo Đường, phái Trúc Lâm Yên Tử là những phái chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Trung Hoa.

Cùng với nền chính trị độc lập nêu cao ý chí tự lực tự cường, nền kinh tế có bước phát triển đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, Đại Việt có một nền văn hoá phát triển tương thích. Văn hoá Đại Việt thời Lý - Trần để lại một dấu ấn khá đậm trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc. Như Lê Quý Đôn đã nhận định “Nước Nam ở hai triều Lý - Trần nổi tiếng là văn minh.” Nền giáo dục Nho học có tính chất thế tục do nhà nước phong kiến quản lý đã xuất hiện, khác hẳn với nền giáo dục của nhà chùa. Điều này có tác động trực tiếp vào sự hình thành của đội ngũ trí thức dân tộc và sự tuyển lựa nhân lực cho bộ máy quan liêu; ảnh hưởng cả đến thế giới quan và những quy phạm 8 chính trị, đạo đức con người và hơn thế là phong cách tư duy trong sáng tác văn học , nghệ thuật.

Thời kỳ này giáo dục được chú ý phát triển, thi cử được tiến hành để tuyển người tài bổ sung vào hàng ngũ quan lại giúp việc cho triều đình. Trên lĩnh vực văn học, nhiều áng thơ văn đặc sắc đã xuất hiện. Bên cạnh những bài thơ và văn bia xoay quanh các chủ đề của đạo Phật là những áng văn chính luận nổi tiếng phản ánh công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong đó, tiêu biểu là bài Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn.

Đến thời Trần, hoạt động thơ văn diễn ra rất sôi nổi, đặc biệt thời kỳ này chữ Nôm đã được vận dụng rộng rãi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Ảnh hưởng của dung thông tam giáo đến chính trị xã hội Việt Nam thời Lý Trần là một bài viết sâu sắc khám phá vai trò của sự hòa hợp giữa Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo trong việc định hình chính trị và xã hội Việt Nam giai đoạn này. Bài viết nhấn mạnh cách thức tam giáo đồng nguyên đã tạo nên một nền tảng văn hóa và tư tưởng vững chắc, giúp củng cố quyền lực nhà nước và duy trì trật tự xã hội. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự tương tác giữa tôn giáo và chính trị, cũng như cách những giá trị này vẫn còn ảnh hưởng đến Việt Nam ngày nay.

Nếu bạn quan tâm đến mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị trong lịch sử Việt Nam, đừng bỏ qua Luận văn tôn giáo học công giáo quan hệ chính trị việt nam pháp thời kỳ 1858-1874. Bài viết này cung cấp góc nhìn chi tiết về sự giao thoa giữa Công giáo và chính trị trong giai đoạn Pháp thuộc, mở rộng hiểu biết của bạn về chủ đề này.