CHƯƠNG 1 VƯƠNG QUỐC THÁI LAN và LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở THÁI LAN 1.1 VƯƠNG QUỐC THÁI LAN: 1.1 Đất nước và con người: Địa hình: Vương quốc Thái Lan có diện tích là 513.115 km2 , xếp thứ ba trong khu vực, sau Indonesia và Myanmar. Thái Lan nằm giữa vùng Đông Nam Á lục địa, ở 970 30 đến 1050 30 kinh độ Đông và từ 50 30 đến 200 30 vĩ độ Bắc 3. Quốc gia này nằm gọn trong khu vực nhiệt đới gió mùa, phía Tây giáp Myanmar, phía Bắc và Đông Bắc giáp Lào, phía Đông giáp Campuchia và phía Nam kéo dài trên phần Bắc bán đảo Malaya. Về mặt địa hình, địa thế Thái Lan thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông.
Những dãy núi kéo dài liên tục ở phía Tây và Tây Bắc tạo thành xương sống của quốc gia này. Với những đặc trưng như vậy, địa hình Thái Lan được chia thành bốn khu vực tự nhiên khác nhau, đồng thời đó cũng là 4 khu vực kinh tế hiện nay của đất nước. Miền Bắc rộng 150.000km2, đựơc bao phủ bởi rừng rậm và núi cao. Đây là phần kéo dài của dãy Hymalaya.
Ở đây có ngọn núi của Thái Lan như ngọn Doi Inthanom cao 2576m, ngọn Pha Hom Pok cao 1297m. Càng về phía Nam núi càng hạ thấp, cuối cùng là đồi và gò. Tất cả đều có rừng bao phủ và đây chính là xứ sở gỗ tếch nổi tiếng của Thái Lan. Len lỏi giữa các dãy núi cao có bốn con sông nhỏ là Ping, Oang, Iom và Nan, hợp lưu ở Nakhonsawan phía Nam tạo thành sông Chao Praya.
Trung tâm hành chính của miền Bắc là Chiengmai, là thành phố lớn và quan trọng thứ hai của Thái Lan, được mệnh danh là “hoa hồng của miền Bắc”. Miền Đông Bắc hay miền cao nguyên Korat, rộng khoảng 100.000 km2, chiếm 1/3 diện tích cả nước. Đây là khu vực ít được thiên nhiên ưu đãi nhất ở Thái 3 Trịnh Huy Hoá biên dịch 2004, Đối thoại với các nền văn hoá – Vương quốc Thái Lan, NXB Trẻ 9 Lan bởi đây là miền đất khô cằn, bạc màu, không thuận lợi cho trồng trọt, cả vùng chỉ có hai con sông nhỏ là sông Mun và sông Chi đổ ra sông lớn Mekong. Vì vậy mà vùng Đông Bắc là nơi phát triển chậm hơn cả so với các vùng khác trong cả nước.
Người Thái thường sử dụng thuật ngữ “Isan” để chỉ vùng Đông Bắc Thái Lan. Thuật ngữ này xuất phát từ từ Isana – một từ tiếng Phạn dùng để chỉ vương quốc Môn – Khơmer vào thời thịnh vị mà ngày nay là một phần vùng Đông Bắc Thái Lan. Miền Trung rộng khoảng 100.000km2 là miền được coi là khá quan trọng vì đây là một miền đồng bằng rộng lớn do con sông Chao Phraya (dài 365 km) thường gọi là Menam có nghĩa là sông lớn, bồi đắp nên. Đồng bằng sông Menam rộng khoảng 31.
Chính nhờ vùng đồng bằng này mà Thái Lan không những có đủ lương thực cho người dân mà còn trở thành quốc gia xuất khẩu gạo nhiều nhất trên thế giới. Con sông thứ hai cũng quan trọng ở miền Trung là con sông Mekong, bồi đắp lên những cánh đồng. Ở đây, người ta tìm thấy các mỏ nhỏ như pholorit, vonphram, thiếc,… Địa hình miền Trung tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ, mưa nắng điều hoà. Phía Đông Nam miền Trung giáp với vịnh Thái Lan, có những cánh đồng lúa với dân cư đông đúc.
Vịnh Thái Lan chạy dài 1.875km và có một số hải cảng. Người ta cũng tìm thấy được mỏ khí đốt thiên nhiên và mỏ dầu. Miền Trung là nơi của “thành phố thiên thần” – Bangkok (tên tiếng Thái là Krungthep – thủ đô của Vương quốc Thái Lan). Cuối thế kỷ XVIII, Bangkok là một thành phố nổi, phương tiện giao thông đi lại chủ yếu bằng thuyền.
Người phương Tây đã từng ví nơi này là Venise phương Đông. Từ thế kỷ XVIII, Bangkok đã trở thành một trung tâm thương mại lớn ở Đông Nam Á, hàng hoá xuất nhập khẩu từ đây được đem đi bán ở khắp nơi trên thế giới. Ngày nay, Bangkok vẫn được coi là một trong những thành phố lớn ở Đông Nam Á. Miền Nam rộng khoảng 70.000km2, là một dãy đất hẹp chạy dài giữa vịnh Thái Lan ở phía Đông, một phần Nam Myanmar và biển Andaman ở phía Tây, còn phía Nam giáp với Malaysia.
Vùng bán đảo này do dãy núi Tenaserim kéo dài tạo thành. Bờ phía Tây có núi cao hiểm trở, bờ phía Đông thấp, có nhiều hải cảng 10 - 11 - và là nơi có nhiều phong cảnh đẹp. Ở đây mới thật sự là một miền nhiệt đới, bốn mùa cây cỏ xanh tươi, ánh nắng chói chang. Dân cư sống đông đúc, họ trồng lúa, trồng dừa, cọ,…đặc biệt là trồng cây cao su.
Trữ lượng thiếc của Thái Lan phần lớn ở Phukhet. Thái Lan đứng thứ 3 trong số những nước sản xuất cao su và thiếc nhiều nhất thế giới. Khí hậu Lãnh thổ Thái Lan nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với sự phân chia khí hậu thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 5 và kéo dài tới tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 năm trước cho đến tháng 4 năm sau.
Hàng năm Thái Lan nhận được lượng mưa trung bình từ 1. Thái Lan hầu như không bị bão lụt lớn hay những thay đổi đột ngột về thời tiết, quanh năm không có khi nào rét lắm, nhiệt độ cao nhất là 33oC và thấp nhất là 16oC khiến cho sản xuất nông nghiệp tương đối ổn định. Sự phân hoá khí hậu về nhiệt độ và độ ẩm làm cho lãnh thổ nước này bị phân hoá thành bốn vùng khí hậu khác nhau, tương ứng với bốn vùng địa hình: vùng khí hậu miền núi phía Bắc vô cùng khắc nghiệt, nhiệt độ ban ngày vào tháng 4 lên đến 40oC, ban đêm có gió lạnh, mùa đông rất lạnh; vùng đồng bằng trung tâm có khí hậu nhiệt đới gió mùa bởi thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều; vùng cao nguyên Korat có mùa khô nóng kéo dài và vùng bán đảo phía Nam ẩm ướt nhất nước. Với điều kiện khí hậu như trên đã làm phong phú, đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi, thảm thực vật tự nhiên của Thái Lan.
Thảm động thực vật: Thái Lan nằm trong vùng chịu ảnh hưởng gió mùa trên thế giới – một điều kiện khí hậu đem lại cho quốc gia này những khu rừng mưa nhiệt đới rậm rạp và một thế giới động vật hoang dã phong phú. • Thực vật: Thái Lan tự hào về những rừng cây lấy gỗ rộng lớn với những loài cây có giá trị cao như tếch, hồng đào, mun ở miền Bắc; cây cọ dầu và cây cao su ở miền Nam; thiên tuế, vàng tâm, phi lao mọc ở khắp nơi; đước thì tràn ngập ở vùng đầm lầy châu thổ và bờ biển phía Nam. 11 Những lùm hoa, cây cối và nhiều loại thực vật khác bao phủ toàn bộ Vương quốc Thái Lan. Đó là hoa sen – đây cũng là một biểu tượng có tính cách tôn giáo đối với nhiều người dân Thái Lan, là hoa Phong Lan.
Ở đây còn có hoa nhài – loài hoa thường được dâng cúng cho các đền chùa, và có cả hoa giấy, hoa dâm bụt. Bên cạnh đó, còn phải kể đến các loại cây rau quả bản địa như chuối, sầu riêng, cam, chanh, xoài, đu đủ,… Trong những khu rừng rậm nhiệt đới, chúng ta còn có thể tìm thấy những loài cây ăn thịt như cây bắt ruồi, và những cây ký sinh bám vào những cây khác để sống như tầm gửi, những loài dây leo như song mây,…. • Động vật: Không như ở Châu phi và Bắc Mỹ, ở Thái Lan hầu hết các loài động vật hoang dã đều ẩn mình trong những khu rừng nhiệt đới rậm rạp. Những động vật có vú lớn nhất vùng này gồm có hổ, báo, bò rừng, các loài hươu, nai, heo vòi, gấu, cầy hương, mèo rừng, nhím, khỉ, sóc bay và voi hoang dã.
Bên cạnh đó, cũng có những loài khá hiếm khác như là gà lôi, đại bàng và vẹt đuôi dài, các loài chim biết hót và vượn đuôi xanh. Rừng rậm nhiệt đới cũng là ngôi nhà rộng lớn cho vô số loài ăn côn trùng, ăn quả hay ăn hạt cây. Có thể kể đến như bọ cánh cứng, bọ cạp, nhện,… Những loài bò sát và động vật lưỡng cư rất đông đảo ở một nơi có khí hậu nhiệt đới như Thái Lan. Nguy hiểm nhất là những loài rắn độc như hổ mang, cạp nong, rắn lục và cá sấu sống ở những con sông gần biển.
Những vùng biển bao quanh vương quốc Thái Lan có hàng ngàn loài cá, cua, tôm, trai, sò,… Con người: Thái Lan là một trong bốn quốc gia đông dân ở Đông Nam Á sau Indonesia, Philippines và Việt Nam; là một trong 20 nước có dân số đông trên thế giới. Dân số Thái Lan tăng khá nhanh. Vào năm 1910, đất nước này mới có khoảng 8 triệu dân. Sau nửa thế kỷ, năm 1960, con số đó đã tăng lên 3 lần là 26 triệu.
Năm 1980, 20 năm sau, dân số Thái Lan là 50 triệu, tức gấp hai lần. Với những cuộc vận động lớn về kế hoạch hoá gia đình, chính phủ Thái Lan đã điều chỉnh được tỷ lệ tăng dân số xuống còn 0,93% năm 2000. Vì vậy mà Thái Lan 12 - 13 - được coi là quốc gia thành công trong việc hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số trong khu vực và với các nước đang phát triển. Thái Lan là một quốc gia đa tộc, trong đó đông hơn cả là người Thái, sau đến người Lào, người Hoa, người Mã Lai, người An, người Campuchia, người Việt Nam,… Trong cộng đồng người Thái ở Thái Lan hiện nay bao gồm nhiều nhóm địa phương với nhiều phương ngữ khác nhau như nhóm Thái miền Bắc, Thái Đông Bắc, Thái Korat, Thái bán đảo, Thái trung tâm,… Người Thái – tộc người đa số của Thái Lan sinh sống khắp mọi miền trên đất nước, tập trung nhất là ở miền Trung, dọc theo sông Chao Phraya và các nhánh của nó.
Người Lào là tộc người đông thứ hai ở Thái Lan với hơn 10 triệu người. Họ còn có các tên gọi khác là: Kao Keo, Lao Vieng, Thai Nua,… Chủ yếu họ làm nghề nông. Cũng như người Thái, người Lào theo đạo Phật và nền văn hoá của họ có nhiều nét tương tự với văn hoá của người Thái. Họ sinh sống chủ yếu ở miền Bắc và Đông Bắc, dọc theo 4 con sông là sông Ping, sông Oang, sông Iom và sông Nan.
Người Lào Vieng sống ở vùng Udon và phía Đông Bắc cao nguyên Korat, người Lào Keo thì sống ở Ubon và những vùng xung quanh.