CHƯƠNG 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN THẾ KỶ XIX 1. Nguyên nhân người Hoa di cư đến Duyên hải Nam Trung Bộ 1. Nguyên nhân bên ngoài Trước hết là những tác động của tình hình chính trị Trung Quốc.
Vào năm 1644, một sự kiện chính trị lớn xảy ra ở Trung Quốc, lợi dụng sự nổi dậy của phong trào khởi nghĩa nông dân do Lý Tự Thành lãnh đạo, quân Mãn Châu tấn công chiếm được Bắc Kinh lật đổ nhà Minh, lập ra nhà Thanh. Từ khi làm chủ Trung Quốc, nhà Thanh đã ra lệnh phải cạo tóc gióc bím, ăn mặc như người Mãn, ai không tuân phải tội chết. Sau khi nhà Minh sụp đổ, ở vùng duyên hải Hoa Nam như Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông một số lực lượng vẫn tiếp tục kháng cự nhà Thanh, dưới sự lãnh đạo của Trịnh Thành Công, dâng cao khẩu hiệu “phản Thanh phục Minh”. Năm 1661, Trịnh Thành Công kéo quân ra Đài Bắc đánh đuổi người Hà Lan ở đây và chiếm giữ đảo này.
Họ Trịnh biến vùng này thành cứ điểm chiến đấu lâu dài suốt mấy mươi năm với quân Thanh. Cũng trong thời gian đó, vùng Hoa Nam còn là bãi chiến trường giữa quân Thanh và ba Phiên vương. Các phong trào đấu tranh “phản Thanh phục Minh” cuối cùng đều thất bại. Các tổ chức quân sự và chính trị lần lượt bị giải thể.
Những người tham gia kháng chiến bị đàn áp dã man. Một số người kiên quyết “bài Thanh phục Minh” đã rời bỏ đất nước ra đi và hô hào nhân dân hãy rời bỏ nhà Thanh cùng họ tiến về vùng biển Đông Nam. Rất nhiều người Hán trung thành với nhà Minh đã rời bỏ đất nước ra đi để tỏ rõ thái độ phản đối sự thống trị của người Mãn đối với người Hán, đồng thời cũng mưu cầu sự nghiệp khôi phục lại cơ nghiệp của triều Minh. Dẫn đến đến một làn sóng di cư lớn của người Hoa tới Đại Việt và Duyên hải Nam Trung Bộ.
Thế kỷ XIX, đế quốc Phương Tây đẩy mạnh can thiệp vào Trung Quốc, đặt cơ sở cho công cuộc xâm lược nước này. Năm 1840, cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất bùng nổ. Tiếp đó chiến tranh giữa nhà Thanh với các nước 12 tư bản liên tiếp diễn ra, Nhà Thanh đều thất bại, phải ký các hiệp ước bất bình đẳng, cắt đất, bồi thường chiến phí. Bên cạnh đó phong trào Thái Bình Thiên Quốc bùng nổ và phát triển mạnh, tác động lớn đến chế độ chính trị của nhà Thanh.
Tình hình chính trị bất ổn ở thế kỷ XIX, đưa đến làn sóng di dân tị nạn chính trị lớn trong lịch sử Trung Quốc tới Đại Việt và nhiều nước trên thế giới. Bên cạnh nguyên nhân chính trị, nguyên nhân kinh tế cũng là một trong những động lực thúc đẩy người Hoa đến Duyên hải Nam Trung Bộ. Từ năm 1371, nhà Minh thực hiện chính sách “Hải cấm”, hạn chế đến mức tối đa các hoạt động ngoại thương, để bù đắp vào sự thiếu hụt những sản phẩm tiêu dùng cần thiết vốn vẫn phải nhập khẩu từ bên ngoài, đồng thời để tỏ rõ uy lực của “thiên triều”, nhà Minh đã yêu cầu các nước láng giềng ở Châu Á thực hiện chế độ cống nạp. Nhà Minh thực hiện kiểm soát ngoại thương bằng hệ thống “thương mại triều cống” và ngày càng mở rộng mạng lưới đặc thù này.
Nhưng do đã quen với truyền thống khai thác biển và buôn bán trên biển nên mặc dù triều đình thực hiện chính sách đóng cửa đất nước hết sức ngặt nghèo, cư dân vùng ven biển Đông Nam Trung Hoa vẫn không thể từ bỏ môi trường sống và cơ sở kinh tế chủ yếu của họ. Sự hấp dẫn mạnh mẽ của những nguồn lợi kinh tế thương mại khổng lồ, sự khác biệt trong chính sách của các quốc gia cùng sự bất cập trong quản lý của các chính quyền địa phương và sự dung túng của tầng lớp quan lại là nguyên nhân chủ yếu khiến cho nhiều nhóm thuyền buồm của Hoa thương bất chấp chính sách “hải cấm” vẫn tiếp tục xuất môn buôn bán. Khác với kinh tế nông nghiệp mang tính ổn định khép kín, biển cả là một môi trường kinh tế mở, dễ thay đổi, rất khó kiểm soát và áp đặt chính sách. Càng ngày chính quyền phong kiến Trung Quốc càng không thể kiểm soát được nạn buôn lậu của Hoa thương trên biển và phải nới lỏng chính sách “Hải cấm”, nhân đó giới Hoa thương ở các vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam càng có thêm điều kiện để thâm nhập và mở rộng hoạt động đến Đông Nam Á và Đại Việt.
Nhân dân ở những vùng này chủ yếu sống nhờ vào biển và đánh cá, điều kiện tự nhiên ở đây rất khó khăn cho phát triển nông 13 nghiệp. Bị cấm thương mại, không còn con đường nào khác, những người Hoa ở hai vùng này phải ra đi tìm những cơ hội mới để sinh tồn. Mặt khác thiên tai, mất mùa, đói kém, bệnh dịch. thường xuyên diễn ra trong lịch sử Trung Quốc đặt biệt là vào cuối các triều đại.
Những tai họa này đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu dân nghèo khiến nhiều người dân Trung Hoa đã tìm đến những vùng đất mới để sinh cơ lập nghiệp. Theo điều tra dân số dưới thời nhà Thanh thì giai đoạn 1620 - 1670, dân cư Trung Quốc giảm tới 50%, từ trên 100 triệu dân xuống còn khoảng 50 triệu dân [41; tr. Trong giai đoạn này, tại Trung Quốc, mất mùa và các bệnh dịch diễn ra liên tục trong nhiều năm liền, làm cho một bộ phận đáng kể dân cư phải lánh nạn, di cư sang Đại Việt và một số nước Đông Nam Á. Thế kỷ XIX, Trung Quốc lại trải qua nhiều cuộc chiến và biến động xã hội.
Những cuộc chiến này không những ảnh hưởng đến chính trị, mà còn gây ra những khủng hoảng kinh tế và đời sống cho người dân. Đặc biệt, giai cấp nông dân là những người chịu thiệt hại nặng nề nhất. Họ phải đối mặt với sự bóc lột, đói khổ, mất ruộng đất và phải lưu vong khắp nơi. Nhiều người trong số họ đã quyết định rời bỏ quê hương để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn ở những vùng đất mới.
Một trong những vùng đất mới mà người Trung Quốc đã di cư tới là các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ. Dân số tăng nhanh cũng là một nguyên nhân đẩy người Trung Hoa di cư đến Duyên hải Nam Trung Bộ, số dân Trung Quốc năm 1651 có khoảng 60 triệu người, đến năm 1800 tăng lên 150 triệu người, năm 1850 là 430 triệu người [38; tr. Sự tăng dân số làm cho diện tích canh tác trên đầu người giảm nhanh. Ví dụ, năm 1753, bình quân đất canh tác trên đầu người của Trung Quốc là 4 mẫu thì con số đó giảm còn 2,4 mẫu vào năm 1812 (mỗi mẫu tương đương khoảng 0,06 hecta).
Thêm vào đó, nạn kiêm tinh ruộng đất diễn ra phổ biến trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, dẫn tới sự chênh lệch quá lớn giữa người giàu và người nghèo về sở hữu ruộng đất, làm bần cùng hóa đông đảo tầng lớp nông dân, đẩy một bộ phận dân cư phải rời khỏi làng của mình [38; tr. Tình trạng này đặc biệt trầm trọng ở các tỉnh Đông Nam Trung Quốc, trong đó hai tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến là hai tỉnh có 14 bình quân ruộng đất trên đầu người thấp hơn các tỉnh khác trong cả nước. Bởi vậy, đại đa số dân Trung Hoa di cư là dân của hai tỉnh này. Như vậy, có thể thấy, sức ép về dân số và nghèo đói là một trong những nguyên nhân chính đẩy người Trung Hoa di cư ra nước ngoài làm ăn sinh sống.
Như vậy, tác động về chính trị, khó khăn về kinh tế, mâu thuẫn về xã hội đã đẩy một bộ phận người Hoa rơi vào tình trạng bế bách. Một bộ phận người Hoa lựa chọn con đường rời bỏ quê hương, đi tìm vùng đất mới, cơ hội mới cho công cuộc sinh cơ, lập nghiệp. Mặt khác những lợi nhuận về kinh tế, chính trị mà lớp người Hoa di cư trước có được, càng kích người Hoa di cư. Khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ trở thành một điểm đến lý trong chuyến hành trình của họ.
Nguyên nhân bên trong Trong khi chính quyền Lê- Trịnh ở Đàng Ngoài thực hiện chính chính sách kiểm soát nghiêm ngặt, hạn chế người Hoa nhập cư, thì những chính sách của chúa Nguyễn và nhà Nguyễn tạo điều kiện cho người Hoa tới buôn bán, định cư. Trong các thế kỷ XVII-XIX, vương triều họ Nguyễn khôn khéo, cho người Hoa nhập cư, hỗ trợ về nhập cảnh, cư trú, thuế khóa, xây dựng tổ chức tự quản…. Đến thế kỷ XVII, cơ đồ chúa Nguyễn ở Đàng Trong mới bước đầu được gây dựng. Đàng Trong là một vùng đất mới, đất đai rộng lớn, dân cư thưa thớt.
Nhu cầu về nhân lực để đẩy mạnh công cuộc khai hoang, lập làng, phát triển sản xuất là nhu cầu tất yếu. Mặt khác để xây dựng tiềm lực cho cuộc đối đầu với họ Trịnh, đòi hỏi các chúa Nguyễn phải mở cửa thông thương, không những để phát triển kinh tế, mà còn thu mua vũ khí, lợi dụng sức mạnh bên ngoài để tăng cường tiềm lực. Trong bối cảnh đó, người Hoa trở thành lực lượng quan trọng trong chiến lược xây dựng vùng đất Đàng Trong của chúa Nguyễn. Bên cạnh quản lý chặt chẽ việc nhập cảnh, cứng rắn về chính trị, xã hội nhằm bảo vệ lãnh thổ Đàng Trong, thì các chúa Nguyễn đã thi hành nhiều chính sách thuận chiều cho người hoa tới định cư, lập nghiệp: đặc cách cho nhiều đối tượng nhập cảnh, phân định các khu vực cho người Hoa cư trú, cho phép tự quản về hành 15 chính và mở rộng về nhập tịch, thực hiện các chính sách ưu đãi về kinh tế, tôn trọng và luôn thúc đẩy hội nhập tự nhiên về văn hóa [16; tr.
Chính sách của đối với người Hoa của chính quyền phong kiến Đàng Trong có sự khác biệt lớn so với Đàng Ngoài: tôn trọng, thân thiện và không hề áp chế về mặt văn hóa. Tùy từng đối tượng, chúa Nguyễn khôn khéo, cởi mở, có đối sách khác nhau, để họ có thể hoà nhập với người Việt và phục vụ tốt cho sự nghiệp của chính quyền Đàng Trong. Nếu như đem so sánh với các nước Đông Nam Á khác cùng thời, chúng ta thấy rõ một sự tương phản. Hầu hết các nước Đông Nam Á thế XVII-XVIII như Chân Lạp, Xiêm La, Inđônêxia, Philippine chỉ cho phép Hoa kiều tự trị, không can thiệp đến sinh hoạt, coi như người ngoại quốc.
Trái lại chúa Nguyễn đều hoan nghênh Hoa kiều nhập hộ tịch, coi họ như đồng bào quý.