Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động kinh tế, xã hội của người Hoa ở Nam Bộ dưới chính quyền thuộc địa Pháp Chuơng 2: Hoạt động kinh tế của người Hoa ở Nam Bộ dưới chính quyền thuộc địa Pháp từ năm 1862 đến năm 1945. Chương 3: Hoạt động xã hội của người Hoa ở Nam Bộ dưới chính quyền thuộc địa Pháp từ năm 1862 đến năm 1945. Chương 4: Vai trò, đặc điểm của hoạt động kinh tế, xã hội của người Hoa ở Nam Bộ dưới chính quyền thuộc địa Pháp từ năm 1862 đến năm 1945. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGƯỜI HOA Ở NAM BỘ DƯỚI CHÍNH QUYỀN THUỘC ĐỊA PHÁP 1.
Một số khái niệm Trước khi tìm hiểu các vấn đề chính về hoạt động kinh tế, xã hội của người Hoa, luận án xin làm rõ nội hàm một số khái niệm sau: Chính quyền thuộc địa: Là quyền điều khiển bộ máy nhà nước ở thuộc địa. Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra Bang là cộng đồng cư dân và cũng là đơn vị cư trú của người Hoa ở Việt Nam trước đây, chủ yếu ở đô thị. Hoa kiều, sử sách gọi là “khách trú” là những người Hoa vẫn giữ nguyên quốc tịch Trung Hoa, mà phần lớn họ là những thương nhân đến buôn bán ở các cảng thị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Minh Hương là cộng đồng người Hoa di cư sang Việt Nam khoảng từ 1644 – 1911 nhưng trải qua thời gian họ đã hòa nhập, nhập cư vào quốc tịch Việt Nam.
Về khái niệm người Hoa: Khái niệm người Hoa theo quan niệm của GS. Mạc Đường được xem là một cộng đồng công dân (community of citizen) là một nhóm tộc người thiểu số (ethnic group) có nguồn gốc từ một quốc gia khác, nhưng đã góp phần khai phá và phát triển những vùng không gian xã hội của quốc gia khác trong quá trình lịch sử lâu dài và sau này đã hòa nhập với cư dân quốc gia cư trú hoặc nhận quốc tịch của quốc gia cư trú [Mạc Đường, 1994, tr. Ở Việt Nam, khái niệm “Người Hoa" được hình thành khá sớm, cùng với cộng sự của người Hoa ở Việt Nam. Danh xưng “Người Hoa dùng để chỉ một nhóm người của đất nước Trung Hoa di cư đến Việt Nam, sinh sống và định cư nhiều đời trên đất nước Việt Nam”.
Và, khái niệm “Người Hoa” đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến trong nhiều nhiều công trình nghiên cứu với các góc độ khác nhau. Theo nhà nghiên cứu Trần Khánh, tác giả của công trình “Người Hoa trong xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc và dưới chế độ Sài Gòn” thì: “Người Hoa là những người 9 gốc Hán hay bị Hán hóa, sống tương đối ổn định, thường xuyên tại các quốc gia Đông Nam Á, đã nhập tịch nước sở tại, còn giữ được những nét đặc trưng của nền văn hóa Trung Hoa và tự nhận mình là người Hoa. Họ là những cộng đồng dân nhập cư có nguồn gốc Trung Hoa ít hoặc chưa bị đồng hóa, là những nhóm tộc người đang trong quá trình liên kết hóa dân tộc, một bộ phận dân cư, dân tộc của các quốc gia Đông Nam Á, đang từng bước điều chỉnh, hội nhập vào các thể chế kinh tế - xã hội chính trị và văn hóa của từng quốc gia - dân tộc, khu vực và quốc tế.” [Trần Khánh, 2001, tr.39-47] Đối với nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Đáng, ông đã nêu khái niệm người Hoa trong nghiên cứu của mình như sau: “1. Những người có gốc Hán (hoặc đã Hán hóa); đến từ Trung Quốc và từ các cộng đồng người Hoa hải ngoại hoặc sinh đẻ tại Việt Nam; sống ổn định và thường xuyên ở Việt Nam, đã được ghi tên vào sổ bộ nhân khẩu Việt Nam hay sổ bộ của các Bang, là thần dân hay chưa là thần dân của các vương triều Việt Nam nhưng có những quyền lợi và nghĩa vụ nhất định do chính quyền sở tại quy định; về cơ bản vẫn còn giữ văn hóa Trung Hoa và tự nhận mình là người Hoa; 2.
Những người sống ở Việt Nam có tên là Minh Hương và những người có nguồn gốc Hoa trong các đơn vị hành chính, tổ chức có tên Minh Hương, Thanh Hà, Đại Minh khách phố của Việt Nam trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVII đến giữa cuối thế kỷ XIX; 3. Bao gồm cả những nhóm người Hoa vì nhiều lý do chạy sang Việt Nam hoạt động như những toán thổ phỉ ở vùng thượng du miền Bắc; cả những khách thương người Hoa do công việc làm ăn buôn bán phải thường xuyên trú ngụ dài ngày ở Việt Nam, những người Hoa đi biển gặp nạn, phải lên bờ và sông dài ngày hay ngắn ngày, thậm chí ở lại, sống lâu dài ở Việt Nam.” [Huỳnh Ngọc Đáng, 2005; tr.56] Đối với nhà nghiên cứu Châu Thị Hải thì cho rằng: “Người Hoa bao gồm tất cả những người di cư từ đất nước Trung Hoa (kể cả Trung Hoa hải đảo) và khái niệm đó thuộc phạm trù biến đổi chứ không phải phạm trù ổn định. Cùng với nó, những hình thức liên kết cộng đồng cũng biến đổi theo và mang ý nghĩa của một thực thể chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội” [Châu Hải, 1989, 37]. Ngày 8-11-1995, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị 10 62-CT/TW, trong đó xác định: “Người Hoa bao gồm những người có gốc Hán và những người thuộc dân tộc ít người của Trung Quốc đã Hán hóa di cư sang Việt Nam và con cháu của họ sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, đã nhập quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn còn giữ những đặc trưng văn hóa, chủ yếu là ngôn ngữ, phong tục tập quán của dân tộc Hán và tự nhận mình là người Hoa”.
Trong luận án, tác giả sẽ dùng khái niệm này là khái niệm chính thống. Tình hình nghiên cứu về người Hoa 1. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Nhóm công trình viết về người Hoa ở Việt Nam Ngay từ nửa đầu thế kỷ XX, đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về người Hoa của các học giả Việt Nam vừa hiểu biết về Hán học vừa chịu ảnh hưởng bởi vốn kiến thức Tây học.
Phần lớn những bài viết trong giai đoạn này được đăng trên các tạp chí như: Đại Việt tập chí, Việt Nam khảo cổ tập san, Văn hóa Á Châu, Văn hóa Nguyệt san…., hoặc công bố trong những công trình chuyên khảo viết về người Hoa trên lãnh thổ Việt Nam nói chung, người Hoa ở từng khu vực cụ thể nói riêng (miền Bắc, miền Trung, miền Nam), nội dung chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau: Về chủ đề nghiên cứu về sự xuất hiện, quá trình di cư người Hoa vào lãnh thổ Việt Nam, đây là chủ đề nhận được sự quan tâm của nhiều học giả nhằm làm rõ quá trình nhập cư của người Hoa cùng quá trình sinh sống của họ trên lãnh thổ Việt Nam, nhất là ở vùng Nam Bộ trong suốt bề dày lịch sử. Có thể kể đến các công trình như: “Mạc Cửu với đất Hà Tiên” của Anh Nguyên (Tạp chí Văn hóa nguyệt san, Sài Gòn, số 26, 1957, tr.1030 -1036); “Lịch sử Hoa Kiều tại Việt Nam” của Tân Việt Điểu (tạp chí Văn hóa nguyệt san, số 61, 62 Sài Gòn, 1961) giới thiệu về quá trình du nhập người Hoa vào lãnh thổ ở Việt Nam; … Đáng chú ý là cuốn Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ (H. Hà Nội, 1924) của Đào Trinh Nhất, đây được xem như chuyên luận sớm nhất của giới nghiên cứu hiện đại đối với vấn đề sự xuất hiện của người Hoa trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Trong công trình, tác giả đã làm rõ các nguyên do vì sao xứ Nam Kỳ thu hút sự di cư đông đảo rất sớm của người Hoa, đồng thời tác giả cũng đề cập đến mối nguy hại của việc người Hoa làm chủ 11 và thao túng toàn bộ thị trường Nam Kỳ trên lĩnh vực kinh tế.
Đây chính là cơ sở quan trọng để triều đình quân chủ Việt Nam thực hiện việc “di dân” vào vùng đất Nam Kỳ để “kháng cái thực lục của Hoa kiều”. Tác phẩm có nhiều tư liệu về phần kinh tế của người Hoa ở Nam Kỳ vào đầu thế kỉ XX, là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị khi tìm hiểu về hoạt động kinh tế người Hoa thời thuộc địa. Trong công trình: Người Hoa Việt Nam và Đông Nam Á hình ảnh hôm qua và vị thế hôm nay, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006 của Châu Thị Hải, tác giả đã bao quát được nhiều vấn đề chung về người Hoa ở Việt Nam và Đông Nam Á trong lịch sử gồm tên gọi, khái niệm, quá trình hình thành các nhóm cộng đồng người Hoa. Đặc biệt, tác giả đã làm rõ lịch sử, hiện trạng và xu hướng phát triển của các loại hình liên kết truyền thống của người Hoa, các mối quan hệ người Hoa với dân bản địa, vai trò và vị trí kinh tế của người Hoa đối với các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu như hiện nay.
Qua công trình, tác giả chỉ ra lối ứng xử hai mặt: vừa thích nghi vừa bảo lưu, vừa hòa nhập vừa cách biệt trên mọi phương diện của cộng đồng người Hoa. “Loại hình văn hóa Hoa thương” là một khái niệm mới được tác giả trình bày, xem xét trên nhiều phương diện và ảnh hưởng của loại hình văn hóa này trong hoạt động kinh tế của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam cũng như ở Đông Nam Á. Từ đó, tác giả kết luận rằng trong hoạt động kinh tế người Hoa cũng có hai mặt: một mặt tăng trưởng kinh tế bề nổi nhưng thật bền vững, mặt khác là nguy cơ tư bản chạy ra nước ngoài mỗi khi nước sở tại có những bất ổn về chính trị và xã hội. Nghiên cứu người Hoa dưới góc độ về tổ chức xã hội, trong mục: Tổ chức xã hội của người Hoa ở Nam Bộ hiện nay trong cuốn “Nhân học và cuộc sống”, tập 3, Nxb Đại học Quốc gia TP.