CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - MỸ NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY I. MỘT VÀI NÉT VỀ NƯỚC MỸ Tên đầy đủ : Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Diện tích : 9626.091 km2 Dân số (2002) : 218 triệu người Thủ đô : Washington Ngôn ngữ chính thức : Tiếng Anh Tiền tệ : Đồng Đô la Mỹ 1. Địa lý, các điều kiện tự nhiên và lịch sử ra đời Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là nước có diện tích 9626091 km2, đứng thứ tư thế giới sau Nga, Canađa và Trung Quốc .Phía Bắc giáp Canađa ,phía nam giáp Mêhicô ,phía đông giáp Đại Tây Dương và phía tây giáp Thái Bình Dương .Nước Mỹ gồm có 50 bang và quận Columbia ,trong đó 48 bang kề nhau trên lục địa Bắc Mỹ, một bang Alasca nằm tách riêng ở phía bắc Canađa, bang Hawaii ở giữa Thái Bình Dương. Tính chất khí hậu của nước Mỹ nhìn chung khá phức tạp, lượng mưa phân bố không đều trên các vùng lãnh thổ khác nhau.
Khí hậu địa hình đa dạng cho phép Mỹ phát triển các sản phẩm nông ,lâm ,ngư nghiệp phong phú trên quy mô lớn. Nước Mỹ cũng rất giàu tài nguyên thiên nhiên, nhiều loại khoáng sản với trữ lượng khá lớn như: than đá, dầu mỏ, khí đốt tự nhiên, vàng, bạc. nhưng Mỹ vẫn nhập khẩu khá nhiều nguyên nhiên liệu đặc biệt là dầu mỏ để thực hiện chính sách tiết kiệm tài nguyên. Quá trình hình thành nước Mỹ gắn liền với phát kiến địa lý và những dòng người di cư từ châu Âu sang lập nghiệp.
Sau sự việc Chistopher Columbus tìm ra châu Mỹ năm 1942 ,người Tây Ban Nha ,Pháp ,Hà Lan ,Thụy Điển rồi người Anh đã bắt đầu đến bắc Mỹ lập nghiệp. Sau nhiều cuộc chiến tranh với người bản địa và các nước thực dân với nhau thì người Anh đã thành lập được 13 bang thuộc địa ở bắc Mỹ. Dưới sự lãnh đạo tài ba của tổng 1 lOMoARcPSD|15547689 chỉ huy quân đội George Washington ,người dân ở 13 bang này đã đứng lên kháng chiến chống lại thực dân Anh và ngày 4/7/1776 nước Mỹ chính thức tuyên bố độc lập. Sau đó bằng việc mở rộng, xâm lấn đất đai của người da đỏ ở phía Tây và bỏ tiền ra mua lại các vùng đất thuộc địa của các nước thực dân khác mà nước Mỹ trở nên rộng lớn như ngày nay.
Dân cư và lối sống của người Mỹ 2. Dân cư Mỹ là nước đông dân đứng thứ ba trên thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ. Hiện nay dân số Mỹ vào khoảng 281 triệu người trong đó có 143 triệu người nữ chiếm 50,9% dân số và 138 triệu nam chiếm 49,1% dân số. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên những năm gần đây là 0,91% ,mật độ phân bố dân cư không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn.
Thành phần dân cư của Mỹ rất đa dạng, có nguồn gốc từ khắp nơi trên thế giới. Đông nhất là người da trắng đến từ châu Âu chiếm 83,5% dân số Mỹ. Người da đen đến từ châu Phi chiếm 12,4%, người châu Á chiếm 3,3%, còn lại là thổ dân da đỏ bản xứ chỉ chiếm 0,8%.Người châu Á sống ở Mỹ chiếm nhiều nhất là người Trung Quốc, số lượng người Việt Nam sống ở đây cũng khá lớn, vào khoảng 2 triệu người, sống chủ yếu tập trung ở miền Tây nước Mỹ. Chính vì sự đa dạng của thành phần chủng tộc nên cũng kéo theo sự đa dạng về tôn giáo.
Ở Mỹ, 56% dân số theo đạo Tin lành, 28% dân số theo đạo Thiên chúa giáo La Mã, 2% dân số theo đạo Do Thái, các tôn giáo khác là 4% và những người không theo tôn giáo nào cả chiếm 10% dân số. Tiếng Anh được dùng làm ngôn ngữ chính thức của Mỹ. Tuy nhiên ở một số bang miền Nam vẫn có một số ít người sử dụng tiếng Tây Ban Nha. Lối sống của người Mỹ Mỹ là một hợp chủng quốc nên lối sống của người Mỹ cũng là sự kết tụ từ nhiều phong cách sống từ các nền văn hoá khác nhau nhưng cùng với thời gian và để thích nghi được với điều kiện tự nhiên, xã hội người Mỹ đã tạo được một phong cách rất riêng.
Đây cũng là yếu tố quan trọng mà các nhà lOMoARcPSD|15547689 Thâm nhập thị trường M ỹ - Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay kinh doanh nước ngoài cần chú ý, nghiên cứu để có thể đáp ứng được tốt các nhu cầu của người Mỹ và thuận lợi hơn khi muốn làm ăn với các đối tác Mỹ. Khác với người Nhật có bản tính tiết kiệm, người Mỹ rất “chịu chơi “ và mua sắm không tiếc tiền, thậm chí nhiều khi vượt quá mức thu nhập thực tế. Nhưng có hai thứ mà người Mỹ rất tiết kiệm đó là: lao động và thời gian, Do lịch sử nước Mỹ được hình thành từ sự tìm tòi và khai phá nên người Mỹ luôn là những người cần cù, giàu nghị lực, có chí tiến thủ và sáng tạo. Họ hiểu rất rõ giá trị của lao động và luôn có ý thức sao cho lao động bỏ ra mang lại hiệu quả cao nhất.
Đó là nguồn gốc của các phát minh, cải tiến trong sản xuất và các phương pháp tổ chức, quản lý lao động khoa học, những yếu tố này đã làm cho nước Mỹ sớm vươn lên trở thành một cường quốc lớn nhất thế giới. Đặc điểm này cũng lý giải cho đặc tính “thực dụng”của người Mỹ: đồ dùng làm ra càng nhiều chức năng càng tốt, hàng hóa phải chú trọng đến tính tiện dụng. Ở Mỹ, câu nói: “ thời gian là tiền bạc “ đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi cá nhân Mỹ. Ý thức tiết kiệm thời gian thể hiện trong tác phong làm việc hàng ngày khẩn trương, nhanh nhẹn, trong cách ra quyết định chóng vánh, cách đàm phán luôn đi thẳng vào vấn đề tránh vòng vo.
Người Mỹ rất tôn trọng sự đúng giờ trong các cuộc hẹn. Dù đến hẹn chỉ muộn năm phút cũng có thể làm người Mỹ bực tức và gây ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ. Người Mỹ rất có ý thức tôn trọng pháp luật. Vai trò của pháp luật rất được đề cao trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống hàng ngày.
Những tranh chấp xung đột đều rất dễ có thể được đưa ra toà án. Người ta nói rằng: “ Sống bên cạnh một người Mỹ bao giờ cũng có một bác sĩ và một luật sư “ vì người Mỹ luôn bị ám ảnh có thể bị kiện bất cứ lúc nào. Về mặt tính cách: Người Mỹ được đánh giá là cởi mở, thẳng thắn, khá nồng nhiệt và dễ tạo lập quan hệ bạn bè. Phần đông người dân Mỹ đều tỏ ra rất thân thiện ngay từ lần gặp đầu tiên.
Họ đề cao giá trị của giao tiếp xã hội vì nó rất có thể đem lại không chỉ các mối quan hệ làm ăn hay mở mang kiến 3 lOMoARcPSD|15547689 thức mà còn giúp tạo cảm giác thư giãn, giảm bớt những căng thẳng mệt nhọc của công việc. Trong đàm phán kinh doanh: Người Mỹ hay nói thẳng và biết tôn trọng lời hứa. Nếu nhận thấy điều gì đó có thể làm được, họ hứa và cố thực hiện cho được, những điều cảm thấy khó khăn, không cho phép hứa hẹn thì họ không ngại thẳng thắn nói “không “. Người Mỹ không dễ bị tự ái trước những lời phê bình, chỉ trích hay những quan điểm đối lập vì họ rất coi trọng quyền tự do ngôn luận.
Chế độ chính trị và hệ thống luật pháp 3. Chế độ chính trị Mỹ là nước liên bang, theo chế độ cộng hoà dân chủ tư sản tổng thống. Theo hiến pháp, Mỹ thực hiện chế độ tam quyền phân lập: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp tồn tại độc lập với nhau Quyền lập pháp: thuộc về Quốc hội, gồm hai viện: Thượng viện và Hạ viện. Hai viện đều có quyền đưa ra các luật, có quyền đối với đánh thuế, quyết định lực lượng vũ trang và quyết định chính trị .Nhưng Thượng viện có đặc quyền thông qua các hiệp ước, hiệp định kí với nước ngoài như BTA và các chức vụ do tổng thống bổ nhiệm.
Thượng viện có quyền thay đổi các dự luật do Hạ viện đề xuất hoặc chấp nhận hay phủ quyết quyền bỏ phiếu buộc tội tổng thống của hạ viện. Quyền hành pháp: Bộ máy hành pháp Hoa Kì có 15 bộ và 60 uỷ ban độc lập. Tổng thống Mỹ đứng đầu bộ máy hành pháp và có quyền lực lớn nhất được bầu trực tiếp và có nhiệm kì bốn năm, và không quá hai nhiệm kì. Tổng thống là người ký, ban bố các sắc lệnh và hiến pháp cho phép tổng thống có quyền phủ quyết dự luật được quốc hội thông qua.
Quyền tư pháp: Thuộc về hệ thống Toà án Liên bang mà đứng đầu là Toà án tối cao hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Toà án tối cao Liên bang có các quyền hạn như: quyền xét xử các vụ án quan trọng, làm trọng tài xét xử các mâu thuẫn giữa các bang, giữa Liên bang với một bang, có quyền xác định tính hợp hiến của các luật và các quyết định của tổng thống và có quyền vô lOMoARcPSD|15547689 Thâm nhập thị trường M ỹ - Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay hiệu hoá bất cứ luật lệ liên bang hoặc bang nào mà Toà xét thấy là trái với Hiến pháp. Về Đảng phái: Mỹ theo chế độ đa Đảng. Hai Đảng lớn thay nhau cầm quyền từ trước đến nay là Đảng Dân Chủ và Đảng Cộng Hoà.
Dù hai đảng này không có sự khác biệt lớn về đường lối chính trị cơ bản chỉ khác nhau 1 quan điểm, biện pháp giải quyết các vấn đề nhưng mục đích đều phục vụ quyền lợi của giai cấp tư sản Mỹ và đều phấn đấu để làm cho nước Mỹ trở thành vai trò lãnh đạo thế giới. Hệ thống luật pháp Mỹ là một trong số ít nước trên thế giới (Anh, Mỹ, Canađa.) duy trì hệ thống pháp luật bất thành văn (common law ) Hệ thống pháp luật Mỹ được chia thành hai ngành là công pháp (Public law) và tư pháp (Private law). Luật công pháp thường được hệ thống hoá và ban hành dưới hình thức văn bản, thể hiện ở Hiến pháp, bộ luật, đạo luật và văn bản dưới luật. Luật công pháp gồm có luật hiến pháp, luật nhà nước, luật hình sự và những văn bản quy định về chính sách đối ngoai, chính sách xuất khẩu.Còn tư pháp phần lớn vẫn tồn tại dưới hình thức là các án lệ (Case law).
Luật tư pháp bao gồm luật dân sư, luật thương mại.