CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1. Khái niệm, vai trò phát triển doanh nghiệp tư nhân 1. Một số khái niệm về doanh nghiệp tư nhân 1.
Khái niệm về doanh nghiệp tư nhân Khái niệm về doanh nghiệp: Theo Khoản 7 điều 4 Luật doanh nghiệp ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Việt Nam, khái niệm về doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. [10] Theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất trong đó là sự kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy. [3] Theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch, và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được.
[3] Có nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp, nhưng thông thường cần có những điều kiện sau để được công nhận là một doanh nghiệp; - Là tổ chức kinh tế có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; - Có vốn pháp định để kinh doanh; - Có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, chịu trách nhiệm độc lập về mọi hoạt động kinh doanh của mình; Các doanh nghiệp có thể được phân loại theo các tiêu chí sau: 5 Một là quan hệ sở hữu về vốn và tài sản: Các doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp. + Doanh nghiệp nhà nước là: Tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. + Doanh nghiệp tư nhân là: Những doanh nghiệp do tư nhân đầu tư vốn và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. + Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp là: Các doanh nghiệp có sự đan xen của các hình thức sở hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp cổ phần là những hình thức đặc trưng của loại hình doanh nghiệp này trong nền kinh tế thị trường. Với các phân loại nêu trên nhằm chỉ rõ quan hệ sở hữu về vốn và tài sản trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Hai là theo mục đích kinh doanh: Doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích. + Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh: Là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập hoặc thừa nhận, hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường.
Mục tiêu cao nhất của các doanh nghiệp này là thu lợi nhuận tối đa. + Doanh nghiệp hoạt động công ích là: Tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông hoặc cung cấp các dịch vụ công cộng, thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng. Những doanh nghiệp này hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục đích hiệu quả kinh tế và xã hội là chính. Việc phân loại này nhằm đánh giá lợi ích xã hội của doanh nghiệp cho hợp lý và là căn cứ quan trọng để xác định chính sách tài trợ của nhà nước.
Ba là theo cơ sở ngành nghề hoặc lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có thể chia thành doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính. + Doanh nghiệp tài chính báo gồm: Ngân hàng thương mại, Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính… Các loại hình doanh nghiệp này có khả năng cung ứng cho nền 6 kinh tế các loại dịch vụ về tiền tệ - tín dụng, bảo hiểm, tài chính. Chức năng chủ yếu là làm môi giới thu hút và chuyển giao vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu để đầu tư phát triển kinh doanh. + Doanh nghiệp phi tài chính là các doanh nghiệp lấy sản xuất kinh doanh làm hoạt động tài chính, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong các ngành nghề như doanh nghiệp dịch vụ, doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp xây dựng… Chức năng chủ yếu của các doanh nghiệp này là cung cấp các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phi tài chính để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế.
Bốn là theo quy mô kinh doanh doanh nghiệp chia thành các loại doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Khái niệm về doanh nghiệp tư nhân: Theo Luật doanh nghiệp năm 2014: “Doanh nghiệp tư nhân là một loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân”.
[10] Hiện nay ở nước ta doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là loại hình doanh nghiệp khá phổ biến, tuy nhiên đa số đều thuộc quy mô còn nhỏ và vừa. DNTN có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân có một số ưu điểm sau: - Doanh nghiệp tư nhân phát triển rất nhanh chóng và rộng khắp ở tất cả các vùng miền và các ngành kinh tế. Do đó góp phần quan trọng trong giao lưu, phát triển kinh tế giữa các vùng lãnh thổ, tạo nên sự phát triển cân đối, xóa bỏ dần ngăn cách giữa thành thị và nông thôn, giải quyết được rất nhiều việc làm, từ lao động có trình độ chuyên môn thấp đến những lao động có trình độ cao.
- Để tồn tại, phát triển và tăng sức cạnh tranh các DNTN có thể liên doanh, liên kết, mở rộng. Qua đó góp phần đẩy nhanh quá trình phân công và hợp tác lao 7 động trong kinh tế thị trường, tạo ra lực lượng lao động có chất lượng, sử dụng một cách hiệu quả. - Có thể tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có, nguồn lao động nông nhàn với chi phí thấp, phục vụ được các nhu cầu phân tán trong dân cư. Các doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong giao lưu, phát triển kinh tế giữa các vùng lãnh thổ, góp phần giảm dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, có thế mạnh về các nghề truyền thống, thủ công, chế biến… - Hiệu quả sử dụng vốn cao vòng quay của vốn và sản phẩm nhanh hơn so với doanh nghiệp nhà nước do vậy rất linh hoạt và nhạy bén với thời cuộc, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Đây là khu vực kinh tế phát triển rất năng động và sáng tạo. - Có thể duy trì sự tự do cạnh tranh, các DNTN thường có quy mô nhỏ, chỉ đóng vai trò là một mắt xích trong dây xích sản xuất sản sản phẩm và kinh doanh hàng hóa. Cho nên chúng là cơ sở cho việc duy trì tự do cạnh tranh và cân bằng với xu hướng độc quyền kinh doanh. - Đầu tư cho mỗi chỗ làm việc tại khu vực kinh tế ngoài nhà nước chỉ bằng 1/3 so với đầu tư cho một chỗ làm trong khu vực kinh tế nhà nước.
Do đó doanh nghiệp ngoài nhà nước có khả năng thu hút nhiều lao động, nhất là lao động có trình độ chuyên môn thấp, có nghề truyền thống và những người thiếu việc làm, lao động gia đình. Bên cạnh đó, khu vực kinh tế này còn có không ít các nhược điểm như: - Phần lớn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, phân tán, công nghệ sản xuất lạc hậu. Nguồn vốn ít và khả năng huy động vốn có hạn, chịu ảnh hưỏng lớn của thị trường. Khi thị trường biến động thường không phản ứng kịp dễ bị rơi vào đình đốn sản xuất, thua lỗ và thậm chí có thể bị phá sản.
- Các doanh nghiệp phát triển còn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch. Làm ăn vụ lợi, riêng biệt, nhỏ lẻ thường chưa có chiến lược phát triển tổng thể và lâu dài. - Khu vực này có tốc độ tăng trưởng cao nhưng không bền vững, hiệu quả kinh doanh còn thấp và sức cạnh tranh yếu. 8 - Việc quản lý nhà nước đối với khu vực này còn nhiều khó khăn.
Mặt khác, hệ thống luật pháp đối với khu vực này chưa hoàn chỉnh đồng bộ nên vẫn còn xảy ra tình trạng kinh doanh trái với ngành nghề đăng ký; trốn lậu thuế; xâm phạm đến quyền lợi người lao động; vi phạm đến luật lao động, đi trái với các quy luật của thị trường. ảnh hưỏng đến nhiều mặt của thị trưòng và của nền kinh tế nước ta. Việc thực hiện các quy định nhà nước ở khu vực này còn chưa tốt. Đặc biệt tham gia BHXH cho người lao động còn bị các chủ doanh nghiệp trốn tránh, điều kiện vệ sinh an toàn không đảm bảo.
Khái niệm về phát triển doanh nghiệp tư nhân Phát triển doanh nghiệp tư nhân là quá trình tăng lên về quy mô và có sự thay đổi về cơ cấu dẫn tới tăng lên cả về chất và lượng của doanh nghiệp tư nhân. Tăng lên về số lượng nghĩa là ở đó có sự tăng trưởng về số lượng các doanh nghiêp, quy mô doanh nghiệp được mở rộng, lao động tăng lên, mặt bằng sản xuất kinh doanh được mở rộng, máy móc thiết bị được đầu tư. Tăng lên về chất là tăng về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, trình độ quản lý được nâng lên, trình độ sản xuất kinh doanh phát triển lên một bước mới, thị trường không ngừng được mở rộng, giá trị đóng góp cho nền kinh tế của doanh nghiệp tư nhân ngày càng tăng lên. Thay đổi về cơ cấu trong lao động, cơ cấu ngành nghề kinh doanh, cơ cấu vốn.
[4] Phát triển doanh nghiệp tư nhân ở nước ta là chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế.