Nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn của các công ty thuỷ sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Tài liệu chuyên sâu Cơ cấu nguồn vốn của công ty thuỷ sản niêm yết tại Việt Nam, phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc cho chuyên

Chuyên ngành

Quản Trị Tài Chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

221
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.1. Mục tiêu tổng quát

1.2. Mục tiêu cụ thể

1.2.1. Hệ thống cơ sở lý luận về CCNV của DN

1.2.2. Đánh giá và nhận định về CCNV của DN thuỷ sản trên thế giới

1.2.3. Đánh giá thực trạng CCNV của các CTTS NY tại Việt Nam

1.2.4. Đánh giá tác động của CCNV đến WACC, rủi ro, và TSSL

1.2.5. Đề xuất hoàn thiện CCNV cho các CTTS NY

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.2.1. Về không gian

2.2.2. Về thời gian

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp định tính

3.2. Phương pháp định lượng

3.3. Phương pháp phân tích tình huống (case study)

4. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

4.1. Cơ cấu nguồn vốn tối ưu

4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cơ cấu nguồn vốn

Cơ cấu nguồn vốn của công ty thuỷ sản niêm yết tại Việt Nam là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu tài chính doanh nghiệp. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về nguồn vốn mà còn chỉ ra cách mà cơ cấu tài chính ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Theo lý thuyết của Modigliani & Miller, cơ cấu vốn không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp trong điều kiện thị trường hoàn hảo. Tuy nhiên, trong thực tế, các yếu tố như thuế và chi phí phá sản có thể làm thay đổi mối quan hệ này. Do đó, việc xác định một cơ cấu nguồn vốn tối ưu là cần thiết để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng một cơ cấu vốn hợp lý có thể giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh và đảm bảo an toàn tài chính.

1.1. Tầm quan trọng của cơ cấu nguồn vốn

Cơ cấu nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khả năng tài chính của công ty niêm yết. Một cơ cấu tài chính hợp lý không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Cường, công ty thuỷ sản cần có một cơ cấu vốn tối ưu để đảm bảo hiệu quả hoạt động và tăng trưởng doanh thu. Việc lựa chọn nguồn vốn phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro tài chính và tối đa hóa lợi ích cho cổ đông. Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng một cơ cấu nguồn vốn hiệu quả là yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong ngành thuỷ sản.

II. Phân tích thực trạng cơ cấu nguồn vốn

Thực trạng cơ cấu nguồn vốn của các công ty thuỷ sản niêm yết tại Việt Nam cho thấy sự đa dạng trong cách thức huy động vốn. Nhiều doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng, trong khi một số khác đã bắt đầu tìm kiếm các hình thức huy động vốn mới như phát hành cổ phiếu. Theo báo cáo tài chính, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các công ty niêm yết trong ngành thuỷ sản thường cao hơn mức trung bình của các ngành khác. Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp trong ngành này đang phải đối mặt với áp lực tài chính lớn. Việc phân tích cơ cấu tài chính hiện tại sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn trong việc điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn nhằm tối ưu hóa chi phí vốn và giảm thiểu rủi ro tài chính.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn

Nhiều yếu tố tác động đến cơ cấu nguồn vốn của các công ty thuỷ sản niêm yết, bao gồm quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, và rủi ro kinh doanh. Nghiên cứu của Harris và Raviv chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ tích cực với tỷ lệ nợ. Doanh nghiệp lớn thường có khả năng tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn và có thể chịu đựng rủi ro tài chính tốt hơn. Ngược lại, các doanh nghiệp nhỏ thường gặp khó khăn trong việc huy động vốn và phải phụ thuộc vào nguồn vốn vay. Hơn nữa, khả năng sinh lời cũng ảnh hưởng đến quyết định tài trợ vốn. Doanh nghiệp có lợi nhuận cao có thể tự tài trợ cho các dự án đầu tư, trong khi doanh nghiệp có lợi nhuận thấp phải tìm kiếm nguồn vốn bên ngoài.

III. Đề xuất hoàn thiện cơ cấu nguồn vốn

Để tối ưu hóa cơ cấu nguồn vốn, các công ty thuỷ sản niêm yết cần xem xét các chiến lược huy động vốn phù hợp. Một trong những đề xuất là tăng cường sử dụng vốn chủ sở hữu thay vì nợ vay. Việc này không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro tài chính mà còn tạo ra sự ổn định trong hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng nên xem xét việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu để huy động vốn cho các dự án đầu tư dài hạn. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Cường, việc xây dựng một cơ cấu nguồn vốn linh hoạt sẽ giúp doanh nghiệp thích ứng tốt hơn với biến động của thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh.

3.1. Chiến lược huy động vốn hiệu quả

Các công ty niêm yết trong ngành thuỷ sản cần phát triển các chiến lược huy động vốn hiệu quả, bao gồm việc tối ưu hóa tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu. Việc xác định hệ số nợ mục tiêu là rất quan trọng để đảm bảo rằng doanh nghiệp không bị quá tải về nợ. Hơn nữa, các doanh nghiệp cũng nên chú trọng đến việc cải thiện chất lượng tài sản và tăng cường khả năng sinh lời để thu hút nhà đầu tư. Một cơ cấu tài chính hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp không chỉ tồn tại mà còn phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU NGUỒN VỐN VÀ HOẠCH ĐỊNH CƠ CẤU NGUỒN VỐN MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP 1. Nguồn vốn và phân loại nguồn vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm nguồn vốn của doanh nghiệp Để có vốn cho hoạt động kinh doanh, DN có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau như: vốn CSH, vốn vay, vốn chiếm dụng nhà cung cấp,. Như vậy, có thể thấy nguồn vốn chỉ ra xuất xứ, nguồn gốc của số vốn DN huy động được cho hoạt động kinh doanh.

Thuật ngữ nguồn tài trợ cũng được sử dụng để chỉ ra xuất xứ, nguồn gốc của số tiền DN có được nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh. Do đó, cần phân biệt rõ nguồn vốn và nguồn tài trợ. Có thể khái quát điểm khác biệt giữa nguồn vốn và nguồn tài trợ qua một số nội dung chính như sau: Bảng 1. Phân loại nguồn vốn và nguồn tài trợ Nội dung Nguồn tài trợ Nguồn vốn Rộng hơn nguồn vốn.

Nguồn tài trợ Hẹp hơn, là một bộ phận cấu Phạm vi bao gồm nguồn vốn và nguồn tiền thành nguồn tài trợ. khấu hao TSCĐ. Nguồn tài trợ có thể làm tăng hoặc Làm tăng tài sản tương ứng cho Tác động tới không làm tăng tài sản hiện có của doanh nghiệp. tài sản doanh nghiệp.

Mục đích Để đưa ra quyết định trong công tác Để lựa chọn và ra quyết định nghiên cứu quản trị dòng tiền. chính sách vay nợ. (Nguồn: Giáo trình TCDN (2015), Học viện Tài chính, NXB Tài Chính) 19 Như vậy, nguồn vốn là nguồn hình thành nên tài sản cho doanh nghiệp. Phân loại nguồn vốn Căn cứ mục đích của nhà quản trị, nguồn vốn được phân loại theo ba tiêu thức chủ yếu sau: 1.

Dựa vào quan hệ sở hữu vốn Nguồn vốn được chia thành nợ phải trả và VCSH.  Nợ phải trả Là biểu hiện bằng tiền những nghĩa vụ tài chính mà DN có trách nhiệm phải thanh toán cho các chủ thể có liên quan đến hoạt động kinh doanh của DN. Theo tính chất các khoản nợ có thể chi tiết nợ phải trả bao gồm: nợ vay và nợ chiếm dụng. - Nợ vay (nguồn vốn tín dụng): Bao gồm các khoản vay ngắn hạn và dài hạn như vay của NH, tổ chức tín dụng, vay thông qua phát hành trái phiếu DN, thuê tài chính v.

Đặc điểm khi sử dụng nguồn vốn này là: điều kiện sử dụng khắt khe, thường yêu cầu tài sản đảm bảo, thời hạn sử dụng linh hoạt và DN có nghĩa vụ hoàn trả đúng hạn. DN sử dụng nợ vay có nhiều ưu điểm: (i) chi phí sử dụng nợ vay thường thấp hơn VCSH; (ii) sử dụng nợ vay như đòn bẩy tài chính để có thể khuếch đại khả năng sinh lời của vốn chủ; (iii) tận dụng lợi ích của “tấm chắn thuế” từ nợ vay giảm thuế thu nhập DN phải nộp. Bên cạnh đó, việc sử dụng nợ vay cũng có những điểm bất lợi nhất định, cụ thể: (i) tăng rủi ro tài chính; (ii) nếu sử dụng đòn bẩy tài chính không hiệu quả sẽ làm sụt giảm nhanh chóng khả năng sinh lời của vốn chủ; (iii) quy mô vốn vay bị giới hạn bởi các chủ nợ thường đưa ra các quy định về hạn mức tín dụng theo từng khách hàng nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng. - Nợ chiếm dụng (nguồn vốn chiếm dụng): Bao gồm những khoản phải trả, phải nộp nhưng chưa đến kỳ hạn thanh toán nên DN được phép sử dụng hợp pháp trong một thời hạn nhất định.

Cụ thể gồm: nợ phải trả nhà cung cấp, 20 người lao động, nợ thuế nhà nước, các khoản phải trả phải nộp khác. Nợ chiếm dụng có đặc điểm: Thời hạn sử dụng ngắn, không mất chi phí sử dụng vốn, quy mô vốn chiếm dụng nhỏ và điều kiện sử dụng dễ dàng. DN sử dụng nguồn vốn này một cách linh hoạt sẽ góp phần tiết kiệm chi phí sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Song, nếu DN lạm dụng quá mức nguồn vốn này sẽ đưa lại những bất lợi nhất định như: DN bị phạt lãi chậm trả rất cao nếu không thanh toán đúng hạn hoặc không được hưởng chiết khấu thanh toán từ nhà cung cấp, nhân viên mất động lực sáng tạo, gây tâm lý không tốt; uy tín DN bị ảnh hưởng trong trường hợp nộp thuế muộn.

 Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ DN bao gồm vốn đầu tư của CSH và lợi nhuận giữ lại. - Vốn đầu tư của CSH: là phần vốn mà CSH đầu tư vào DN thông qua các hình thức góp vốn bao gồm vốn góp ban đầu và số vốn góp bổ sung trong quá trình kinh doanh. - Lợi nhuận giữ lại: là phần lợi nhuận sau thuế có được từ kết quả kinh doanh hàng năm được CSH giữ lại tái đầu tư vào công ty nhằm bổ sung tăng vốn kinh doanh dài hạn. DN sử dụng nguồn VCSH có nhiều ưu điểm bao gồm: tránh được áp lực phải thanh toán gốc và lãi đúng hạn; tăng tự chủ tài chính; chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng.

Bên cạnh đó, việc sử dụng VCSH cũng có những điểm bất lợi nhất định như: chi phí sử dụng vốn chủ thường cao hơn vốn vay, phức tạp liên quan đến quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn. Nguồn vốn được chia thành nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn. Nguồn vốn ngắn hạn (nguồn vốn tạm thời): là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (thường có thời gian sử dụng dưới một năm).

DN thường sử dụng để đáp ứng các nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn ngắn hạn bao gồm các khoản vay ngắn hạn và 21 các khoản nợ ngắn hạn khác (các khoản phải nộp, phải trả hoặc phải thanh toán ngắn hạn .) DN sử dụng nguồn vốn ngắn hạn có những ưu điểm cơ bản đó là có lợi về chi phí sử dụng vốn và tính linh hoạt. Tuy nhiên, DN sử dụng nguồn vốn này cũng đưa lại bất lợi rất lớn thể hiện áp lực thanh toán nợ cao, tăng nguy cơ mất khả năng thanh khoản. Nguồn vốn dài hạn (nguồn vốn thường xuyên): là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định mà DN có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh.

Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của DN. Nguồn vốn dài hạn bao gồm nợ dài hạn và VCSH. Sử dụng nguồn vốn dài hạn mamg lại cho DN lợi thế về thời gian sử dụng và hoàn trả vốn song có bất lợi về chi phí sử dụng vốn cũng như thiếu sự linh hoạt bởi khó điều chỉnh CCNV. Nguồn vốn thường xuyên của DN là căn cứ để xác định nguồn vốn lưu động thường xuyên (NWC).

Nguồn vốn lưu động thường xuyên: là một phần nguồn vốn thường xuyên dùng để tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên cần thiết trong hoạt động kinh doanh của DN. Tại một thời điểm NWC của DN được xác định như sau: NWC = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn Hoặc: NWC = Nguồn vốn dài hạn – Tài sản dài hạn - Nếu NWC < 0, có nghĩa DN đã dùng nguồn có tính chất ngắn hạn để đầu tư tài sản dài hạn. Trường hợp này giúp DN tiết kiệm chi phí sử dụng vốn nhưng rủi ro tài chính cao và điều này đặc biệt nguy hiểm đối với các DN hoạt động có tỷ lệ đầu tư vốn vào tài sản dài hạn cao. - Nếu NWC >0, có nghĩa DN đã dùng một phần nguồn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn.

Trường hợp này rủi ro tài chính của DN thấp nhưng phải mất chi phí sử dụng vốn cao hơn. 22 - Nếu NWC = 0, có nghĩa DN đã dùng toàn bộ nguồn vốn ngắn hạn chỉ để tài trợ cho tài sản ngắn hạn và toàn bộ nguồn vốn dài hạn chỉ để tài trợ cho tài sản dài hạn. Trường hợp này DN đảm bảo nguyên tắc tài trợ, cân bằng giữa rủi ro và chi phí sử dụng vốn. Song, cách tài trợ này không tạo ra tính ổn định trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là các DN có tốc độ luân chuyển vốn chậm.

Căn cứ vào phạm vi huy động vốn. Nguồn vốn được chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài. Nguồn vốn bên trong DN (nguồn vốn nội sinh): là số vốn DN có thể huy động được từ chính hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn bên trong của DN chính là số lợi nhuận giữ lại tái đầu tư bao gồm lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ trích từ lợi nhuận.

Sử dụng nguồn vốn bên trong DN có những điểm lợi đó là: (i) tiết kiệm thời gian và chi phí huy động vốn; (ii) giữ quyền kiểm soát cho cổ đông hiện hành; (iii) không bị áp lực thanh toán đúng hạn; (iv) chủ động trong sử dụng vốn. Song điểm bất lợi lớn nhất khi sử dụng nguồn vốn bên trong đó là quy mô vốn thường nhỏ. Nguồn vốn bên ngoài DN (nguồn vốn ngoại sinh): là số vốn DN có thể huy động được từ bên ngoài DN bao gồm: vốn vay (cá nhân, tổ chức), tín dụng thương mại, vốn góp liên doanh, liên kết, thuê tài sản, phát hành chứng khoán. DN sử dụng nguồn vốn bên ngoài có ưu điểm vượt trội về quy mô vốn so với nguồn vốn bên trong.

Ngược lại, DN bị lệ thuộc bởi bên ngoài và nguồn vốn này cũng không tạo ra sự tăng trưởng bền vững cho doanh nghiệp. Như vậy, có thể thấy DN sử dụng bất kỳ nguồn vốn nào cũng đều có những điểm lợi và bất lợi nhất định. Để đưa ra quyết định về cơ cấu nguồn vốn tối ưu, DN cần sử dụng kết hợp các nguồn vốn một cách hợp lý giữa VCSH và nợ phải trả, giữa nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn, giữa nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài nhằm đạt mục tiêu tối đa hoá giá trị DN trên cơ sở tối đa hoá khả năng sinh lời, tối thiểu hoá rủi ro và chi phí sử dụng vốn. Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp 1.

Khái niệm và các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn của DN 1. Khái niệm cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp Có nhiều thuật ngữ và quan điểm khác nhau khi đề cập đến CCNV của doanh nghiệp. Trên thế giới, Stephen A. Westerfield và Brandford D.

Jordan (2003) định nghĩa “Cơ cấu vốn (Capital Structure) của một DN là sự kết hợp giữa việc sử dụng vốn nợ (Debt) và vốn CSH (Equity) theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn của các công ty thuỷ sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thành Cường và Nguyễn Thị Cảnh, được thực hiện tại Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân vào năm 2017, tập trung vào việc phân tích và đánh giá cơ cấu nguồn vốn của các công ty thủy sản niêm yết. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình tài chính của ngành thủy sản mà còn chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích giúp họ hiểu rõ hơn về cách thức quản lý tài chính và tối ưu hóa nguồn vốn trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý tài chính trong các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam", nơi phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu ảnh hưởng của thanh khoản cổ phiếu đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thanh khoản ảnh hưởng đến cấu trúc vốn. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến cấu trúc vốn trong ngành thủy sản. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về quản lý tài chính và cấu trúc vốn trong các doanh nghiệp niêm yết.