Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân xã. Chương 2: Thực trạng về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân xã Minh Hưng, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước – Kiến nghị và giải pháp. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ 1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí và chức năng của Ủy ban nhân dân xã Chính quyền địa phương là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của bộ máy hành chính nhà nước.
Chính quyền địa phương là một thuật ngữ được sử dụng nhiều, rộng rãi và phổ biến trong nhiều lĩnh vực; tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào định nghĩa về khái niệm chính quyền địa phương. Trong từ điển tiếng Việt, chính quyền được hiểu là bộ máy điều hành, quản lý công việc của nhà nước ở các cấp nên có thể hiểu chính quyền địa phương là hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức ở địa phương, thực hiện các chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn địa phương. Hiến pháp năm 2013 quy định “chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”2. Cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định.
Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, LTCCQĐP năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2019 nêu rõ “cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” bao gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp huyện); xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) và đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt3. Ở nước ta, UBND là khái niệm được dùng từ khi ban hành Hiến pháp năm 19804 đến nay, còn theo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 thì cơ quan này được gọi là Ủy ban hành chính5, hay nói cách khác, tiền thân của UBND các cấp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là Ủy ban hành chính của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1945 - 1976. Khoản 1 Điều 114 Hiến pháp năm 2013 quy định “UBND ở cấp chính quyền địa phương do HĐND cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”. LTCCQĐP năm 2015 được xây dựng trên cơ sở sửa đổi toàn diện Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 cho phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013; theo đó, Khoản 1 Điều 8 Luật này cũng quy định “UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp 2 Khoản 1 Điều 111 Hiến pháp năm 2013.
3 Khoản 1 Điều 4 LTCCQĐP năm 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của LTCCP và LTCCQĐP năm 2019. 4 Điều 121 Hiến pháp năm 1980. 5 Điều thứ 60 Hiến pháp năm 1946, Điều 87 Hiến pháp năm 1959. 9 hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”.
Trước đây, Điều 2 Luật tổ chức của HĐND và UBND năm 2003 quy định “UBND do HĐND bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên”6. So với Luật tổ chức của HĐND và UBND năm 2003, LTCCQĐP năm 2015 đã bổ sung nội dung UBND chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương. Ngoài ra, Từ điển bách khoa Việt Nam cũng định nghĩa “UBND là cơ quan chính quyền nhân dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được lập ra ở các cấp xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện; huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”7. Còn theo Từ điển Luật học thì “UBND là tên gọi của các cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương”8.
Nhìn chung, đa phần các quan điểm đều thể hiện UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, đồng thời cũng là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Như vậy, có thể thấy, UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, có vai trò vô cùng quan trọng trong bộ máy chính quyền địa phương. UBND do cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp lập ra vì vậy chúng được xác định là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực trong phạm vi địa giới hành chính nhất định. Dựa trên khái niệm về UBND được quy định tại Hiến pháp năm 2013, LTCCQĐP năm 2015 và định nghĩa của các chuyên gia, có thể khái quát khái niệm về UBND xã như sau: UBND xã do HĐND xã bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
Từ tính chất của UBND và khái niệm UBND xã nêu trên, có thể thấy UBND xã có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, UBND xã là cấp chính quyền địa phương cấp cơ sở, gần dân nhất. UBND cấp xã là chính quyền của các đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn. Trong hệ thống đơn vị hành chính lãnh thổ thì xã, phường, trị trấn là đơn vị hành chính nhỏ nhất, là cấp cuối cùng vì vậy UBND xã được gọi là cấp chính quyền cơ sở trong hệ thống chính quyền địa 6 Điều 2 Luật tổ chức của HĐND và UBND năm 2003. 7 Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2005), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb.
Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội, Tập 2, tr. 8 Nguyễn Hữu Quỳnh (Chủ biên), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. 10 phương bao gồm cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
UBND xã là cấp hành chính trực tiếp quan hệ với dân trong hệ thống tổ chức của bộ máy hành chính nhà nước; là cấp chính quyền gần dân, gắn bó và sâu sát với nhân dân nhất, là nơi trực tiếp tổ chức triển khai, thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đi vào cuộc sống, giải quyết mọi vấn đề ở địa phương. Thứ hai, UBND xã vừa có tính phụ thuộc vừa có tính tự chủ trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. UBND xã là một bộ phận trong hệ thống hành chính nhà nước thống nhất do Chính phủ chỉ đạo, điều hành, hoạt động của UBND xã là hoạt động chấp hành, cụ thể UBND xã chịu sự lãnh đạo của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trong phạm vi và mức độ phân cấp theo quy định của pháp luật. Ngoài thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất, UBND xã còn là cơ chế để thực hiện quyền tự chủ của cộng đồng dân cư trên địa bàn, cụ thể, UBND xã bên cạnh chức năng là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương còn là cơ quan tự quản ở xã, đại diện cho cộng đồng dân cư ở cơ sở, giải quyết những vấn đề nội bộ của địa phương; điều này thể hiện qua hoạt động của UBND xã phải thực hiện ý chí, nguyện vọng của cộng đồng dân cư phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế, xã hội và mức độ thực hành dân chủ của người dân trên địa bàn xã và chịu sự giám sát của nhân dân.
Thứ ba, UBND xã có tổ chức bộ máy đơn giản hơn UBND cấp trên. Tổ chức bộ máy của UBND xã rất đơn giản, gọn nhẹ, không có các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND mà chỉ có cán bộ, công chức phụ trách từng lĩnh vực. Thứ tư, UBND xã là nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống gắn liền, mật thiết với nhân dân. UBND xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện các quy định, quyết định của Nhà nước, là cấp đầu tiên đối mặt giải quyết những yêu cầu, thắc mắc, bức xúc của nhân dân; đồng thời, là nơi trực tiếp thu nhận, lắng nghe, tiếp thu các ý kiến, đề xuất, kiến nghị của nhân dân.
UBND xã là nơi trực tiếp vận động người dân, chung sống hàng ngày cùng người dân, hiểu rõ về người dân trong địa bàn xã; cán bộ của UBND xã là người trực tiếp hàng ngày giải quyết những vấn đề về dân quyền, dân sinh, dân trí, dân tâm, làm sao một mặt phải theo đúng chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, mặt khác phải sát và phù hợp với tình hình thực tế trong xã hội và thấu tình đạt lý trong quan hệ xóm làng. Hiện nay, vị trí của UBND xã được ghi nhận rõ ràng tại Hiến pháp năm 2013 và LTCCQĐP năm 20159, theo đó, UBND xã với tư cách là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương và là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp, cụ thể như sau: 9 Khoản 1 Điều 114 Hiến pháp năm 2013; khoản 1 Điều 8 LTCCQĐP năm 2015. 11 Một là, UBND xã là cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp xã. UBND xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, trên thực tế UBND xã là cơ quan điều hành công việc nhà nước ở xã; điều đó thể hiện ở chỗ UBND xã có nhiệm vụ triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội và dân cư trên địa bàn xã.
UBND xã chính là đầu mối giải quyết các công việc thường ngày của nhân dân và có quan hệ trực tiếp và gắn bó mật thiết với nhân dân, ảnh hưởng rất lớn tới sự thành công của các chủ trương, chính sách được hoạch định từ cấp trên và quyền, lợi ích của nhân dân trên địa bàn.