Chương IT: Thực trang về cơ cau và hoạt động của HĐND xã ở Việt Nam. Chương III: Nhiệm vụ, giải pháp đổi mới cơ cấu tổ chức va nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND xã ở Việt Nam hiện nay. I1 CHUONG I: NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE HOAT ĐỘNG VÀ TO CHỨC CUA HOI DONG NHÂN DÂN XÃ 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ quan đại diện của nhân dân 1.
Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về cơ quan đại diện của nhân dân Sau 5 năm ké từ thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga, chính quyền Xô- viết đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế như bộ máy nhà nước vẫn mang dáng dấp của bộ máy nhà nước cũ, tô chức céng kénh, hoạt động không hiệu qua, nang lực tô chức chưa đáp ứng được quá trình triển khai các nội dung, nhiệm vụ theo chức năng của nhà nước. Tình hình đó đã đặt ra yêu cầu phải xây dựng một nhà nước kiểu mới. Theo quan điểm của Lênin “Nhà nước kiêu mới phải thê hiện rõ tính nhân văn sâu sắc, tính ưu việt vượt trội so với các nhà nước trước đó; phải thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lay lợi ich của nhân dân làm mục tiêu tối thượng dé phục vụ”. Từ những luận điểm chung về xây dựng nhà nước kiểu mới, việc tổ chức CQĐP có thể được kiến giải theo những nội dung như sau: Một là, Đảm bảo vị trí, vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản đối với chính quyền các cấp, bao gồm chính quyền cấp Trung Ương và chính quyền cấp cơ sở.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đã trở thành tinh tat yêu khách quan được Lênin khang định: “Chủ nghĩa Mác giáo dục Dang công nhân là giáo dục đội tiên phong của giai cấp vô sản, đội tiên phong ấy đủ sức nắm chính quyền và dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, đủ sức lãnh đạo và tô chức một chế độ mới, đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường lãnh đạo tất cả những người lao động và những người bị bóc lột để giúp họ tổ chức đời sống xã hội của họ mà không cần đến giai cấp tư sản và chống lại giai cấp tư sản”[45, tr. Đề làm tốt vai trò lãnh đạo của mình, Đảng phải có sự gan bó mật thiết với nhân dân, làm cho hoạt động của CQDP các cấp được đặt dưới sự kiểm tra, giảm sát của nhân dân. Hai là, Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, nếu quá đặt nặng vấn đề tập trung quyền lực sẽ dẫn đến hiện tượng chuyên quyền, 12 độc đoán còn nếu quá chú trọng yếu tố dân chủ sẽ rơi vào tình trạng mất tập trung, vô chính phủ.
Do đó, việc cân băng hai yếu tố tập trung dân chủ là mau chốt dé phát huy sức mạnh chính quyên nhân dân. Ba là, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mac - Lénin luận giải bản chất của dân chủ XHCN là kết quả của việc giai cấp công nhân và nông dân lao động giành được quyền lực chính trị, bước đầu sẽ tạo ra một chế độ dân chủ, qua đó trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra quyền thống trị của giai cấp vô san[10, tr. Vì vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải là công cụ hữu hiệu đề nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình.
Bốn là, tô chức bộ máy cần được tinh gọn, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ; phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Nguyên tắc “thà ít mà tốt” là nguyên tắc được Lênin quan tâm và yêu cầu thực hiện khi tiến hành xây dựng bộ máy nhà nước theo hướng gọn nhẹ, tỉnh giản dé tăng cường hiệu quả và tiết kiệm và bộ máy ấy phải đảm bảo hoàn toàn phục tùng chính trị chứ không phải là chính trị phục tùng bộ may[46, tr. Năm là, QLNN tại địa phương cần có cơ chế kiểm soát. Lênin chỉ rõ: “Nếu quyền lực chính trị trong nước nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi đa số, thì mới có thé thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia theo đúng nguyện vọng của đa số.
Nhưng nếu lợi ích của giai cap cam quyền không phủ hợp với lợi ích đa số thì hoàn toàn có thé dẫn đến xung đột hoặc mạnh hơn là đàn áp đa số”[47, tr. Do đó, việc thực thi quyền lực phải đi đôi với kiểm soát quyền lực để đảm bảo QLNN được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả. Sáu là, Pháp luật là công cụ của Nhà nước trong việc quản lý xã hội.Mác nhấn mạnh: “Không một người nào, ngay cả nhà lập pháp ưu tú nhất, cũng không được đặt minh cao hơn luật pháp do minh bảo vệ”[1 1, tr. Pháp luật là căn cứ có tính tối thượng dé điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong cộng đồng, ké cả Nhà nước - vốn là cơ quan ban hành Pháp luật.
Tuy nhiên, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, Pháp luật cần có sự điều chỉnh dé phù hợp với bối cảnh chung của xã hội, lam cho các điều luật luôn mang tính khách quan và được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Như vậy, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dung nhà nước kiểu mới đã trở thành cơ sở lý luận tiến bộ trong công cuộc xây dựng chế độ Xã hội chủ nghĩa ở 13 nước ta. Trong đó, nội dung về xây dựng nhà nước phục vụ lợi ích chính đáng của nhân dân đóng vai trò là tri thức nền tảng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu trong suốt quá trình xây dựng chính quyền các cấp, cụ thé là ở cấp Trung Ương bao gồm Quốc hội và Chính phủ, ở cấp địa phương là các cơ quan HĐND và UBND. Tư tưởng Hồ Chí Minh về co quan đại diện của nhân dân Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định việc xây dựng nhà nước đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là nội dung vô cùng quan trong trong việc xây dựng CQĐP.
Đây là quan điểm mang tính quyết định, được sử dụng làm căn cứ trong việc thiết lập bộ máy chính quyền nhân dân. Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng CQDP được được kiến giải theo năm nội dung cơ bản sau: 1 - Xây dựng pháp luật dé “thực hiện chính quyền mạnh mẽ va sáng suốt của nhân dân”; 2 - Ban hành pháp luật dé tô chức bộ máy nhà nước, thực hiện một NNPQ; 3 - Ban bố pháp luật dé công bố các quyền tự do, dân chủ của nhân dân; 4 - Nghiêm trị bằng pháp luật các tội phạm và vi phạm pháp luật; 5 - Pháp luật phục vụ cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc[42, tr. Xét về tầm quan trọng của CQDP, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng CQDP có tổ chức và hoạt động phù hợp với những đặc điểm, bối cảnh cụ thê của Việt Nam về phương thức quan trị quốc gia và quản lý xã hội. CQDP là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị Việt Nam, được tô chức chặt chẽ, thống nhất và đặt dưới sự chỉ đạo của Trung Ương theo mối quan hệ “Địa phương phục tùng Trung Ương”.
CQDP ở ba cấp Tỉnh, Huyện, Xã là hệ thống cơ quan do nhân dân bầu ra, đại diện nhân dân chấp hành các chủ trương của Dang và chính sách của nhà nước về các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tam quan trọng của CQDP đặc biệt là ở cấp xã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắn mạnh là “cấp gần gũi nhân dân nhất, nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi”[50, tr. Giai đoạn từ 1945 - 1969 là thời kỳ Hồ Chí Minh giữ vai trò Chủ tịch nước, do đó văn bản quy phạm pháp luật về tô chức và hoạt động của CQDP đều nhấn mạnh CQDP là công cụ dé thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội trên phạm vi 14 quan lý của CQĐP: “Đề thực hiện chính quyền nhân dân địa phương trong nước Việt Nam, sẽ đặt hai thứ cơ quan là HĐND và UBHC”[12, tr.
95]; “HĐND các cấp là cơ quan QLNN ở địa phương, do nhân dân bầu ra”; “UBHC các cấp là cơ quan QLNN ở địa phương, do nhân dân bầu ra”; “UBHC các cấp là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp, là cơ quan hành chính của nha nước ở cấp ấy”[56, tr. Về vai trò của CQDP, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân mạnh là cơ quan nhà nước gần gũi nhất với nhân dân, do đó phải thường xuyên quan tâm chăm lo đời sống của nhân dân về mọi mặt dé nâng cao chất lượng đời sống và tích cực phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức và hoạt động của CQDP có thé hiểu là xây dựng bộ máy nhà nước đảm bảo tính dân chủ nhân dân và tính tự quản. Hai tính chất này thé hiện rõ nguyên lý dan chủ mới của bộ máy quản lý xã hội là chính quyền trực tiếp và chính quyền tập trung.
Theo đó, hiệu quả trong việc điều hành, quản lý xã hội của CQDP được thê hiện ở tính tập trung, thống nhất từ cấp Trung Ương tới cấp cơ sở, mỗi CQDP cấp dưới là mô hình thu nhỏ của CQDP cấp trên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “UBND (làng, huyện, tỉnh, thành phó) là hình thức chính phủ trong các địa phương, sau khi khởi nghĩa thang lợi” [49, tr. Mô hình CQDP được quy định tại điều 1, Sắc lệnh số 63/SL, bao gồm hai co quan HĐND và UBHC, được tổ chức theo nguyên tắc như sau: HĐND và UBHC là hai cơ quan cấu thành Chính quyền nhân dân địa phương trong nước. HĐND là cơ quan đại diện nhân dân, được nhân dân ủy quyền và do nhân dân bầu ra theo hình thức phô thông và trực tiếp đầu phiếu.
UBHC là cơ quan do HĐND bầu ra, thực hiện các nhiệm vụ, chỉ thị của Chính phủ và thay mặt cho nhân dân địa phương điều hành quản lý nhà nước, quản lý xã hội trong phạm vi địa phương. Tính khoa học, hợp lý trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tô chức CQDP được thé hiện trong việc phân chia chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị. Sắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 đã quy định cụ thé về tổ chức và hoạt động của CQDP nông thôn về việc cấp tỉnh và cấp xã là hai đơn vị hành chính có đầy đủ hai cơ quan HĐND và UBHC.