Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC CÔNG TY VÀ PHÁP LUẬT CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC GIỮA CÔNG TY ĐỐI NHÂN VÀ CÔNG TY ĐỐI VỐN 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY ĐỐI NHÂN VÀ CÔNG TY ĐỐI VỐN 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại công ty Công ty có thể hiểu theo nhiều nghĩa nếu xét dưới các góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh tế, công ty có thể được hiểu là các tổ chức chuyên thực hiện các hoạt động thương nghiệp, dịch vụ.
Dưới góc độ pháp lý, công ty được hiểu là sự liên kết của nhiều người để tiến hành một công việc gì đó vì mục đích kiếm lời. Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học đưa ra khái niệm về công ty. Nhà luật học Kubler Cộng hòa liên bang Đức đã quan niệm rằng: "Công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lý nhằm tiến hành các hoạt động để đạt một mục tiêu chung nào đó" [19, tr. Còn theo Điều 1832 Bộ luật Dân sự (BLDS) Pháp thì công ty là một sự liên kết của hai hay nhiều người trên cơ sở hợp đồng, hoặc bởi ý chí của chỉ một người nhằm sử dụng tài sản góp vốn cho mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.
Với những cách định nghĩa như trên, có thể thấy các nhà Luật gia tại Đức hay Pháp đều quan niệm rằng công ty là một hợp đồng (sự liên kết) giữa các thành viên theo đó các thành viên cùng nhau góp vốn, cùng nhau hoạt động chung, cùng kiếm lời để chia nhau và cùng nhau chịu lỗ. Tại Việt Nam, đến nay chưa có văn bản luật nào đưa ra một khái niệm chung nhất về công ty. Tuy nhiên từ Luật Công ty 1990, đến Luật Doanh nghiệp 1999, 2005 và 2014, đều có quy định công ty là một loại hình doanh nghiệp, hay một chủ thể kinh doanh, chịu sự điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bằng việc tổng hợp các quan niệm nêu trên về công ty, có thể hiểu rằng: Công ty là một thực thể kinh doanh, được tạo lập nên bởi ý chí của một hoặc các thành viên trong công ty thông qua hợp đồng thành lập công ty, khai thác tài sản của công ty được hình thành từ vốn góp của các thành viên công ty nhằm mục tiêu lợi nhuận hay mục đích thương mại.
Với việc đưa ra định nghĩa như trên, có thể thấy công ty mang những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, công ty được tạo lập bởi ý chí và sự liên kết giữa các cá nhân hay tổ chức là thành viên của công ty, và sự liên kết này thể hiện ở hình thức bên ngoài là một tổ chức. Đặc điểm này dựa trên cơ sở hình thành cũng như ý nghĩa của sự hình thành nên các công ty, đồng thời cũng là điều kiện quan trọng cho việc tạo lập nên công ty. Để đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh trong bối cảnh nền sản xuất hàng hóa đã phát triển đến mức độ nhất định, các nhà đầu tư trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau đã liên kết lại theo những hình thức nhất định và tạo ra các mô hình tổ chức kinh doanh mới, chính là các công ty kinh doanh. Như vậy, ý chí, nguyện vọng của các nhà nhà đầu tư (hay các thành viên sáng lập) là điều kiện tiên quyết cho sự liên kết và tạo lập nên một công ty mới.
Đối với công ty TNHH một thành viên, thì ý chí thành lập công ty của chính chủ sở hữu công ty là cơ sở, tiền đề cho việc tạo lập nên công ty. Thứ hai, ý chí tạo lập, hay sự liên kết giữa các thành viên được thực hiện thông qua một sự kiện pháp lý. Thông thường, sự kiện pháp lý là việc các thành viên cùng nhau ký kết hợp đồng thành lập công ty, hợp đồng góp vốn, xây dựng điều lệ công ty, quy chế công ty… Đồng thời, tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đều có những quy định chung về trình tự, thủ tục đối với việc thành lập doanh nghiệp nói chung và thành lập công ty nói riêng. Thứ ba, các thành viên sáng lập sẽ bỏ ra một số tài sản của mình để góp vào công ty và cùng nhau khai thác khối tài sản hình thành từ vốn góp đó.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên, vai trò của vốn góp đối với mỗi loại thành viên trong mỗi loại hình công ty là khác nhau Thứ tư, mục đích của việc thành lập công ty là để kinh doanh có lợi nhuận (mục đích kiếm lời). Có thể hiểu, mục đích kiếm lời là ý chí, mong muốn của công ty hay các thành viên trong công ty. Ý chí, mong muốn đó luôn tồn tại và không phụ thuộc vào việc thực tế công ty đó có đang kiếm được lợi nhuận hay không. Như vậy, công ty là một thực thể kinh doanh, được tạo lập nên bởi ý chí của một hoặc các thành viên trong công ty thông qua hợp đồng thành lập công ty, khai thác tài sản của công ty được hình thành từ vốn góp của các thành viên công ty nhằm mục tiêu lợi nhuận hay mục đích thương mại.
Có thể nói, công ty có bản chất là một hành vi pháp lý, có nghĩa công ty một thành viên là một hành vi pháp lý đơn phương, còn công ty nhiều thành viên là một hợp đồng [9]. Với đa dạng các loại hình công ty như hiện nay, sự phân loại công ty là điều hết sức cần thiết và quan trọng. Có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại công ty: + Căn cứ vào chế độ trách nhiệm của các thành viên, có thể phân loại công ty thành công ty có chế độ TNHH và công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn + Căn cứ vào hình thức pháp lý, có thể phân loại công ty thành công ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản, công ty cổ phần, công ty TNHH… + Căn cứ dưới góc độ pháp lý, công ty được chia thành thành hai nhóm cơ bản là công ty đối nhân và công ty đối vốn. Đây cũng là cách phân loại theo truyền thống Civil Law.
Khái niệm, đặc điểm và hình thức của công ty đối nhân và công ty đối vốn 1. Công ty đối nhân Có thể nói, công ty đối nhân là loại hình công ty có mặt sớm nhất trong lịch sử phát triển của nền kinh tế. Những quy định sơ khai về công ty 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối nhân đã được tìm thấy trong các bộ luật thời cổ đại như Bộ luật Hammurabi của Babylon vào khoảng năm 2300 trước Công nguyên. Ở châu Âu, Châu Á, tập quán kinh doanh của các thương nhân, sự liên kết những phường, hội người buôn là tiền đề hình thành nên hình thức công ty này.
Ban đầu, công ty chỉ là những liên kết giản đơn của các thương nhân quen biết nhau, và sự quen biết dựa trên yếu tố nhân thân tạo nên sự tin cậy về mặt tâm lý, yếu tố vốn chỉ là thứ yếu. Cho đến nay, công ty đối nhân vẫn là một trong những loại hình công ty được nhiều thương nhân lựa chọn. Như vậy, công ty đối nhân là những công ty mà sự liên kết dựa trên sự tin cậy của các thành viên về nhân thân, sự góp vốn chỉ là thứ yếu. Một đặc điểm quan trọng của công ty đối nhân là việc tài sản của các thành viên công ty và tài sản của công ty không có sự tách biệt.
Các thành viên, hoặc ít nhất một thành viên của công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty. Các thành viên có tư cách thương gia độc lập và phải chịu thuế thu nhập cá nhân, bản thân công ty không bị đánh thuế. Các công ty đối nhân thường tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản. Công ty hợp danh là loại hình công ty trong đó các thành viên (gọi là thành viên hợp danh) cùng nhau tiến hành hoạt động thương mại dưới cùng một tên chung và tất cả các thành viên đều phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty.
Chính đặc điểm liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của công ty hợp danh đòi hỏi các thành viên phải thật sự hiểu biết nhau và tin tưởng lẫn nhau (tính đối nhân). Công ty hợp danh có thể coi là công ty đối nhân điển hình và là loại hình công ty xuất hiện sớm nhất trong lịch sử. Công ty hợp vốn đơn giản là loại hình công ty có ít nhất một thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ (thành viên nhận vốn), các thành viên khác chỉ chịu TNHH trong phạm vi số vốn góp vào công 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Về cơ bản, công ty hợp vốn đơn giản cũng giống như công ty hợp danh về tính đối nhân (có thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn về khoản nợ của công ty).
Tuy nhiên, ngoài thành viên hợp danh thì công ty hợp vốn đơn giản có thêm một loại thành viên mang thân phận pháp lý khác biệt là thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn chỉ chịu TNHH với phần vốn góp vào công ty, không được đại diện công ty tham gia vào các quan hệ đối ngoại mà chỉ có quyền trong các quan hệ nội bộ của công ty. Ngoài ra, thực tế cũng ghi nhận một loại hình công ty đối nhân nữa là công ty nặc danh. Đây là loại hình công ty gần tương tự với công ty hợp vốn đơn giản, khi có cả thành viên nhận vốn và thành viên góp vốn.
Tuy nhiên, trong khi các thành viên nhận vốn để kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty thì các thành viên góp vốn chỉ có trách nhiệm góp vốn cho các thành viên nhận vốn, được hưởng một phần lợi nhuận của công ty và không phải chịu trách nhiệm về nợ của công ty. Tuy nhiên, phổ biến trong pháp luật doanh nghiệp hiện đại quy định công ty đối nhân bao gồm: Công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản. Công ty đối vốn Về mặt lịch sử, công ty đối vốn ra đời sau các công ty đối nhân. Khác với công ty đối nhân, các công ty đối vốn chỉ có các thành viên góp vốn (được gọi chung là thành viên công ty), và công ty đối vốn không quan tâm tới tư cách cá nhân (nhân thân) của các thành viên trong công ty, mà chỉ quan tâm tới phần vốn góp của thành viên vào công ty.