Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành Công ty cổ phần. Chương 2: Thực trạng pháp luật liên quan điều chỉnh hoạt động của khối trường ĐHCL và nhu cầu chuyển đổi thành công ty cổ phần Chương 3: Phương hướng, giải pháp xây dựng pháp luật về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta hiện nay 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI CƠ SỞ ĐÀO TẠO CÔNG LẬP THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN. Quan niệm về GDĐH hiện nay 1. Một vài quan điểm mới hình thành về GDĐH Một trong những vấn đề đầu tiên và quan trọng quyết định tới chính sách và nội dung, quy trình cải cách GDĐH, trường đại học chính là xác định và xây dựng một cách nhất quán một quan niệm thống nhất về GDĐH.
Quan niệm GDĐH theo khuynh hướng nào có vai trò và ý nghĩa quyết định tới những nội dung và biện pháp cải cách GDĐH cụ thể. Việc phát triển giáo dục nói chung trong đó có GDĐH vốn là trách nhiệm của Nhà nước. Tuy vậy, trước những biến động cũng như xu thế mới của thời đại, đang xuất hiện nhiều khuynh hướng quan điểm mới. Ở Việt Nam, cũng đã xuất hiện nhiều luồng quan điểm được phát biểu tại các diễn đàn chính thức về GDĐH.
Có thể thấy có 3 khuynh hướng về GDĐH: (1) Xu hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa GDĐH; (2) Xu hướng coi GDĐH thuộc về của cải công; (3) Xu hướng coi GDĐH là tài sản hỗn hợp giữa công ích và hàng hóa[1]. Khuynh hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa GDĐH quan niệm coi GDĐH là một loại hàng hóa, chịu sự điều chỉnh của cơ chế thị trường. Trong bối cảnh quốc tế hóa, GDĐH cũng không thể nằm ngoài xu thế chung. Quốc tế hóa dẫn tới sự cạnh tranh về chất lượng giữa các trường đại học trở nên mạnh mẽ hơn, trên phạm vi toàn cầu.
Nâng cao chất lượng trở thành vấn đề sống còn, đặc biệt ở các nước có nền giáo dục kém phát triển. Nguồn vốn trở thành một bài toán nan giải. Không phải ngẫu nhiên, vấn đề tài chính trở thành một vấn đề chung cho mọi chương trình cải cách GDĐH. Làm sao để huy động được nhiều nguồn vốn nhất, thu hút được nhiều sinh viên nhất…dẫn tới nhiều đại học đã thực hiện cải tổ theo xu hướng thị trường.
Sự cạnh tranh cũng dẫn tới sự phân hóa ngày càng sâu sắc về đẳng cấp và thứ bậc giữa các trường đại học với nhau. Và sự phân cấp ấy ngày càng được thừa nhận và quan tâm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rộng rãi trên phạm vi quốc tế. Điều đó thể hiện ở các bảng xếp hạng các đại học trên thế giới ngày càng được quan tâm nhiều hơn trên phạm vi toàn cầu. Khuynh hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa GDĐH được bắt nguồn từ chủ nghĩa tự do và được thể hiện rất rõ trong GDĐH Mỹ.
Chủ nghĩa tự do xem thị trường, tự do và cạnh tranh là phương pháp hay nhất để thực hiện tiến bộ kinh tế, xã hội và chính trị. Các đại biểu tiêu biểu cho chủ nghĩa này có thể kể đến Adam Smith, John Stuart Mill, Alfred Marshall và Milton Friedman. Mặc dù đây là các nhà kinh tế học nhưng trong các triết lý của họ còn có triết lý về con người, do đó, liên quan tới giáo dục. Adam Smith là người đặt nền móng cho lý thuyết thị trường tự do, cũng là người đầu tiên đưa thị trường vào trong lý luận giáo dục.
Theo ông, vai trò quan trọng nhất của giáo dục là giúp phát triển năng lực cá nhân, và sự khác biệt về năng lực giữa những người khác nhau không phải là do dòng dõi, thân thế hoặc tố chất bẩm sinh, mà hoàn toàn là do giáo dục. Vì vậy, các chi phí giáo dục phải được xem là chi phí cá nhân hơn là chi phí xã hội, mặc dù xã hội cũng được lợi khi mọi cá nhân đều được phát triển đến mức tối đa năng lực của mình. Để thúc đẩy giáo dục đại học phát triển, Smith quan niệm phải giải phóng các lực lượng thị trường, khuyến khích các sáng kiến tư nhân trong giáo dục và tận dụng cơ chế cạnh tranh giữa các lực lượng này, vì điều này sẽ giúp đạt được chất lượng và hiệu quả cao nhất của việc đầu tư cho giáo dục. Quan điểm này còn được tiếp tục thể hiện ở John Stuart Mill, một nhà tư tưởng ở thế kỷ 19.
John Stuart Mill cũng ủng hộ quan điểm lợi ích giáo dục thuộc về cá nhân, do đó, cá nhân phải chi trả các chi phí dành cho giáo dục đại học như một khoản đầu tư. Alfred Marshall tiếp tục phát triển thêm lý luận về bản chất đặc biệt của thị trường giáo dục đại học, với một quan điểm khá mới mẻ và khác lạ so với Adam Smith và John Stuart Mill. Theo ông, hai đặc điểm quan trọng nhất của thị trường giáo dục đại học khiến cho nó khác hẳn các thị trường khác là: sự đầu tư rất dài khiến cho mục tiêu cần đạt chỉ có thể xác định một cách rất mơ hồ. Tồn tại một sự đứt khúc giữa một bên là những cá nhân phải chi trả cho giáo dục và một bên là người thụ hưởng lợi ích từ việc học tập.
Từ những lý luận về giáo dục đại học, đặc điểm đặc thù của thị trường giáo dục đại học, các nhà tư tưởng của chủ nghĩa tự do chủ trương giảm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiểu tới mức tối đa vai trò và sự can thiệp của nhà nước, dành phần quyết định cho thị trường và giao quyền lựa chọn cho mỗi cá nhân thụ hưởng giáo dục đại học. Đồng thời, do tác động mạnh mẽ của quá trình quốc tế hóa, tiếng Anh ngày càng có vai trò quan trọng, đặc biệt là tại các nước kém phát triển. Điều đó dẫn tới nhu cầu nhập khẩu giáo dục từ các nước nói tiếng Anh. Dẫn tới nhu cầu xuất khẩu giáo dục từ các nước nói tiếng Anh cũng theo đó trở nên bức thiết.
Các đại diện tiêu biểu cho sự thành công và phát triển của việc xuất khẩu giáo dục cũng chính là các quốc gia có nhu cầu cao nhất về yêu cầu xóa bỏ các rào cản trao đổi giáo dục xuyên quốc gia là Mỹ, Úc và Newzerland. Trên phạm vi quốc tế, quan điểm GDĐH là một loại hàng hóa đã được chính thức bàn thảo đến tại một tổ chức vốn không liên quan trực tiếp tới GDĐH, là WTO. WTO đã chủ trì các cuộc bàn thảo về giáo dục là hàng hóa và dịch vụ mua bán được (tradable) và ký kết thỏa ước chung về trao đổi thương mại các dịch vụ (GATS, General Agreement on Trade in Services). Điều đáng chú ý là giáo dục là khu vực mà các thành viên WTO còn ngại tự do hóa nhất (theo OECD 2002, trong số 146 thành viên WTO chỉ có 42 thành viên đồng ý cam kết về ít nhất một khu vực giáo dục).
Trong Thỏa ước tổng quát về thương mại dịch vụ ký năm 1995, đã có sự trù liệu cho thời gian mở cửa cho tự do mậu dịch là 10 năm. Theo đó, WTO phân biệt 04 hình thức tự do mậu dịch quốc tế về giáo dục: Thứ nhất là “tiêu thụ tại ngoại quốc”: đây là hình thức liên quan đặc biệt tới đại học. Học tại nước ngoài được xem như xuất khẩu dịch vụ giáo dục. Đòi hỏi trong lĩnh vực này là xóa bỏ những biện pháp hạn chế sự đi lại của sinh viên về thủ tục nhập cư, kiểm soát hối đoái, tương đương bằng cấp…Thứ hai là “cung cấp dịch vụ”, hình thức này ngày càng phát triển và phát triển rất nhanh, với việc bán giáo trình qua internet, CD-Rom, DVD.
Yêu cầu trong lĩnh vực này là tạo dễ dàng cho giới trẻ vào internet, hủy bỏ các luật lệ về giáo dục từ xa, công nhận tương đương cho các giáo trình, thừa nhận bừng cấp trên phạm vi quốc tế. Thứ ba là “hiện diện thương mại”, liên quan tới việc mở những trường đào tạo tư do các xí nghiệp nước ngoài kiểm soát. Nước sở tại phải xóa bỏ những cản trở như từ chối không công nhận trường nước ngoài, cấm cấp phát văn bằng…. Thứ tư là “hiện diện của nhân viên”, nghĩa là không được hạn chế số lượng của người đến giảng dậy.
Tuy vậy, với sự kiện thương thuyết tổng quát về tài trợ nông nghiệp thất bại tại Cancun năm 2003, đã 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kéo theo sự đình chỉ thương thuyết về dịch vụ trong đó có giáo dục. Giáo dục đại học, vì vậy tạm thời chưa chịu sự điều chỉnh của WTO, chưa hoàn toàn chính thức trở thành một loại hàng hóa dịch vụ được thừa nhận rộng rãi và công khai trên phạm vi quốc tế. Đối ngược với khuynh hướng coi giáo dục đại học là một loại hàng hóa, vẫn tồn tại khuynh hướng coi giáo dục đại học thuộc về lĩnh vực công. Có thể thấy điều đó qua các tuyên ngôn của các hiệu trưởng các trường đại học trong cuộc đấu tranh chống lại xu hướng đưa giáo dục vào phạm vi điều chỉnh của WTO.
Trong Tuyên bố chung của các hiệu trưởng các trường đại học công họp tại Brazil tháng 4/2002 nhấn mạnh: “Các thành viên của cộng đồng đại học châu Mỹ la tinh họp nhau tại đây, trong ý muốn chung xác nhận lại lần nữa những cam kết mà các chính phủ và cộng đồng đại học quốc tế đã xác nhận vào tháng 10 năm 1998 tại Paris trong dịp Hội nghị quốc tế về đại học, và khởi đi từ nguyên tắc rằng giáo dục là một tài sản công, yêu cầu chính phủ của các nước này đừng ký vào bất cứ một cam kết nào về lĩnh vực ấy trong khuôn khổ Thỏa ước tổng quát về thương mại các dịch vụ của WTO”. Trong một văn bản pháp lý mang tính quốc tế khác, Điều 26, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1984 ghi nhận: “mọi người đều được quyền ngang nhau để vào đại học trên cơ sở xứng đáng”. Ngang nhau nghĩa là không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, cũng như về giai tầng xã hội, phương tiện tài chính. Đồng thời, Thỏa ước quốc tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc công nhận năm 1976 cũng đã ghi nhận tại Điều 13: “Mọi người đều có quyền ngang nhau để vào đại học, trên cơ sở khả năng, bằng mọi phương tiện thích hợp, đặc biệt bằng cách thực hiện dần dần giáo dục miễn phí”.