Luận văn thạc sĩ vnu ls những vấn đề pháp lý liên quan đến chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần tại việt nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls những vấn đề pháp lý liên quan đến chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

122
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI CƠ SỞ ĐÀO TẠO CÔNG LẬP THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1. Quan niệm về GDĐH hiện nay

1.2. Một vài quan điểm mới hình thành về GDĐH

1.3. Quan niệm về giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.4. Quan niệm về thị trường giáo dục đại học ở Việt Nam

1.5. Quan niệm về trường đại học

1.6. Vài nét sơ lược về lịch sử đại học trên thế giới

1.7. Chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần

1.8. Mục tiêu chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CỦA KHỐI TRƯỜNG ĐHCL VÀ NHU CẦU CHUYỂN ĐỔI THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN

2.1. Một số nét khái quát về các trường ĐHCL

2.2. Khái quát lịch sử trường đại học ở Việt Nam

2.3. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của khối trường đại học công lập

2.4. Pháp luật về địa vị pháp lý của trường ĐHCL

2.5. Thực trạng pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của khối trường ĐHCL

2.6. Pháp luật về quản lý Nhà nước đối với Trường Đại học công lập

2.7. Pháp luật quy định quyền tự chủ của các trường đại học công lập

2.8. Pháp luật về quản lý tài chính tại các trường ĐHCL

2.9. Pháp luật về bộ máy tổ chức của trường ĐHCL

2.10. Nhu cầu chuyển đổi các cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở Việt Nam

2.11. Xuất phát từ nhu cầu đổi mới của các trường ĐHCL

2.12. Từ kinh nghiệm đổi mới giáo dục đại học trên thế giới

2.13. Những ưu điểm của mô hình tổ chức và quản lý của công ty cổ phần - Đối tượng hướng tới của quá trình CPH

2.14. Đánh giá quá trình CPH trong thời gian qua

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI CƠ SỞ ĐÀO TẠO CÔNG LẬP THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

3.1. Phương hướng xây dựng pháp luật về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta hiện nay

3.2. Đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của Nhà nước, trường ĐHCL, thị trường trong mối quan hệ: Nhà nước-GDĐH, trường ĐH và thị trường

3.3. Yêu cầu và nguyên tắc xây dựng pháp luật về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta hiện nay

3.4. Định hướng phát triển của GDĐH tới năm 2020

3.5. Yêu cầu quán triệt tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng về GD, GDĐH trong quá trình xây dựng pháp luật về chương trình cổ phần hóa các cơ sở đào tạo công lập

3.6. Phương hướng xây dựng những nội dung cơ bản của pháp luật về cổ phần hóa các cơ sở đào tạo công lập

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chuyển Đổi Cơ Sở Đào Tạo Công Lập Thành Công Ty Cổ Phần

Chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần là một chủ trương quan trọng trong chính sách cải cách giáo dục tại Việt Nam. Mô hình này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà còn tạo ra nguồn lực tài chính cho các trường đại học công lập. Tuy nhiên, việc thực hiện chuyển đổi này gặp phải nhiều thách thức pháp lý và thực tiễn.

1.1. Khái Niệm Về Chuyển Đổi Cơ Sở Đào Tạo

Chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần là quá trình chuyển giao quyền sở hữu và quản lý từ nhà nước sang các cá nhân hoặc tổ chức tư nhân. Điều này nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng giáo dục.

1.2. Lịch Sử Phát Triển Của Mô Hình Cổ Phần Hóa

Mô hình cổ phần hóa trong giáo dục đại học đã được thí điểm từ những năm 1990. Qua các giai đoạn, nhiều trường đại học đã chuyển đổi thành công ty cổ phần, tạo ra những thay đổi tích cực trong quản lý và chất lượng đào tạo.

II. Những Vấn Đề Pháp Lý Trong Chuyển Đổi Cơ Sở Đào Tạo

Việc chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần tại Việt Nam gặp phải nhiều vấn đề pháp lý phức tạp. Các quy định hiện hành chưa đủ rõ ràng và đồng bộ, dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện.

2.1. Quy Định Pháp Luật Về Cổ Phần Hóa

Pháp luật hiện hành về cổ phần hóa chưa có những quy định cụ thể cho lĩnh vực giáo dục. Điều này gây khó khăn cho các trường đại học trong việc thực hiện chuyển đổi và đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

2.2. Thách Thức Trong Quản Lý Sau Cổ Phần Hóa

Sau khi chuyển đổi, các trường đại học phải đối mặt với thách thức trong việc duy trì chất lượng giáo dục và đảm bảo quyền lợi cho sinh viên. Sự chuyển giao quyền lực từ nhà nước sang tư nhân có thể dẫn đến những xung đột lợi ích.

III. Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Pháp Lý Trong Chuyển Đổi

Để giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc xây dựng khung pháp lý rõ ràng và đồng bộ là rất cần thiết.

3.1. Xây Dựng Khung Pháp Lý Rõ Ràng

Cần thiết phải xây dựng một khung pháp lý rõ ràng cho việc chuyển đổi, bao gồm các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan. Điều này sẽ giúp các trường đại học thực hiện chuyển đổi một cách hiệu quả hơn.

3.2. Tăng Cường Đào Tạo Nhân Lực

Đào tạo nhân lực cho các trường đại học sau khi chuyển đổi là rất quan trọng. Cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu về quản lý và điều hành trong môi trường doanh nghiệp.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Mô Hình Cổ Phần Hóa

Mô hình cổ phần hóa đã được áp dụng tại một số trường đại học và mang lại những kết quả tích cực. Tuy nhiên, cần có sự đánh giá và điều chỉnh để tối ưu hóa hiệu quả.

4.1. Kết Quả Đạt Được Từ Các Trường Đã Cổ Phần Hóa

Nhiều trường đại học sau khi chuyển đổi đã cải thiện đáng kể về chất lượng đào tạo và khả năng thu hút sinh viên. Điều này cho thấy mô hình cổ phần hóa có thể mang lại lợi ích cho giáo dục.

4.2. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Các Nước Khác

Các nước khác đã áp dụng mô hình cổ phần hóa trong giáo dục đại học cũng đã gặp phải những thách thức tương tự. Học hỏi từ kinh nghiệm của họ sẽ giúp Việt Nam có những bước đi đúng đắn hơn.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Chuyển Đổi Cơ Sở Đào Tạo

Chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần là một xu hướng tất yếu trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, để thành công, cần có sự đồng bộ trong chính sách và pháp luật.

5.1. Tương Lai Của Mô Hình Cổ Phần Hóa

Mô hình cổ phần hóa có thể trở thành một giải pháp hiệu quả cho giáo dục đại học tại Việt Nam nếu được thực hiện đúng cách. Cần có sự hỗ trợ từ chính phủ và các cơ quan chức năng.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho các trường đại học trong quá trình chuyển đổi, bao gồm cả hỗ trợ tài chính và đào tạo nhân lực.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls những vấn đề pháp lý liên quan đến chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành Công ty cổ phần. Chương 2: Thực trạng pháp luật liên quan điều chỉnh hoạt động của khối trường ĐHCL và nhu cầu chuyển đổi thành công ty cổ phần Chương 3: Phương hướng, giải pháp xây dựng pháp luật về chuyển đổi cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần ở nước ta hiện nay 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI CƠ SỞ ĐÀO TẠO CÔNG LẬP THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN. Quan niệm về GDĐH hiện nay 1. Một vài quan điểm mới hình thành về GDĐH Một trong những vấn đề đầu tiên và quan trọng quyết định tới chính sách và nội dung, quy trình cải cách GDĐH, trường đại học chính là xác định và xây dựng một cách nhất quán một quan niệm thống nhất về GDĐH.

Quan niệm GDĐH theo khuynh hướng nào có vai trò và ý nghĩa quyết định tới những nội dung và biện pháp cải cách GDĐH cụ thể. Việc phát triển giáo dục nói chung trong đó có GDĐH vốn là trách nhiệm của Nhà nước. Tuy vậy, trước những biến động cũng như xu thế mới của thời đại, đang xuất hiện nhiều khuynh hướng quan điểm mới. Ở Việt Nam, cũng đã xuất hiện nhiều luồng quan điểm được phát biểu tại các diễn đàn chính thức về GDĐH.

Có thể thấy có 3 khuynh hướng về GDĐH: (1) Xu hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa GDĐH; (2) Xu hướng coi GDĐH thuộc về của cải công; (3) Xu hướng coi GDĐH là tài sản hỗn hợp giữa công ích và hàng hóa[1]. Khuynh hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa GDĐH quan niệm coi GDĐH là một loại hàng hóa, chịu sự điều chỉnh của cơ chế thị trường. Trong bối cảnh quốc tế hóa, GDĐH cũng không thể nằm ngoài xu thế chung. Quốc tế hóa dẫn tới sự cạnh tranh về chất lượng giữa các trường đại học trở nên mạnh mẽ hơn, trên phạm vi toàn cầu.

Nâng cao chất lượng trở thành vấn đề sống còn, đặc biệt ở các nước có nền giáo dục kém phát triển. Nguồn vốn trở thành một bài toán nan giải. Không phải ngẫu nhiên, vấn đề tài chính trở thành một vấn đề chung cho mọi chương trình cải cách GDĐH. Làm sao để huy động được nhiều nguồn vốn nhất, thu hút được nhiều sinh viên nhất…dẫn tới nhiều đại học đã thực hiện cải tổ theo xu hướng thị trường.

Sự cạnh tranh cũng dẫn tới sự phân hóa ngày càng sâu sắc về đẳng cấp và thứ bậc giữa các trường đại học với nhau. Và sự phân cấp ấy ngày càng được thừa nhận và quan tâm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rộng rãi trên phạm vi quốc tế. Điều đó thể hiện ở các bảng xếp hạng các đại học trên thế giới ngày càng được quan tâm nhiều hơn trên phạm vi toàn cầu. Khuynh hướng thương mại hóa, dịch vụ hóa GDĐH được bắt nguồn từ chủ nghĩa tự do và được thể hiện rất rõ trong GDĐH Mỹ.

Chủ nghĩa tự do xem thị trường, tự do và cạnh tranh là phương pháp hay nhất để thực hiện tiến bộ kinh tế, xã hội và chính trị. Các đại biểu tiêu biểu cho chủ nghĩa này có thể kể đến Adam Smith, John Stuart Mill, Alfred Marshall và Milton Friedman. Mặc dù đây là các nhà kinh tế học nhưng trong các triết lý của họ còn có triết lý về con người, do đó, liên quan tới giáo dục. Adam Smith là người đặt nền móng cho lý thuyết thị trường tự do, cũng là người đầu tiên đưa thị trường vào trong lý luận giáo dục.

Theo ông, vai trò quan trọng nhất của giáo dục là giúp phát triển năng lực cá nhân, và sự khác biệt về năng lực giữa những người khác nhau không phải là do dòng dõi, thân thế hoặc tố chất bẩm sinh, mà hoàn toàn là do giáo dục. Vì vậy, các chi phí giáo dục phải được xem là chi phí cá nhân hơn là chi phí xã hội, mặc dù xã hội cũng được lợi khi mọi cá nhân đều được phát triển đến mức tối đa năng lực của mình. Để thúc đẩy giáo dục đại học phát triển, Smith quan niệm phải giải phóng các lực lượng thị trường, khuyến khích các sáng kiến tư nhân trong giáo dục và tận dụng cơ chế cạnh tranh giữa các lực lượng này, vì điều này sẽ giúp đạt được chất lượng và hiệu quả cao nhất của việc đầu tư cho giáo dục. Quan điểm này còn được tiếp tục thể hiện ở John Stuart Mill, một nhà tư tưởng ở thế kỷ 19.

John Stuart Mill cũng ủng hộ quan điểm lợi ích giáo dục thuộc về cá nhân, do đó, cá nhân phải chi trả các chi phí dành cho giáo dục đại học như một khoản đầu tư. Alfred Marshall tiếp tục phát triển thêm lý luận về bản chất đặc biệt của thị trường giáo dục đại học, với một quan điểm khá mới mẻ và khác lạ so với Adam Smith và John Stuart Mill. Theo ông, hai đặc điểm quan trọng nhất của thị trường giáo dục đại học khiến cho nó khác hẳn các thị trường khác là: sự đầu tư rất dài khiến cho mục tiêu cần đạt chỉ có thể xác định một cách rất mơ hồ. Tồn tại một sự đứt khúc giữa một bên là những cá nhân phải chi trả cho giáo dục và một bên là người thụ hưởng lợi ích từ việc học tập.

Từ những lý luận về giáo dục đại học, đặc điểm đặc thù của thị trường giáo dục đại học, các nhà tư tưởng của chủ nghĩa tự do chủ trương giảm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiểu tới mức tối đa vai trò và sự can thiệp của nhà nước, dành phần quyết định cho thị trường và giao quyền lựa chọn cho mỗi cá nhân thụ hưởng giáo dục đại học. Đồng thời, do tác động mạnh mẽ của quá trình quốc tế hóa, tiếng Anh ngày càng có vai trò quan trọng, đặc biệt là tại các nước kém phát triển. Điều đó dẫn tới nhu cầu nhập khẩu giáo dục từ các nước nói tiếng Anh. Dẫn tới nhu cầu xuất khẩu giáo dục từ các nước nói tiếng Anh cũng theo đó trở nên bức thiết.

Các đại diện tiêu biểu cho sự thành công và phát triển của việc xuất khẩu giáo dục cũng chính là các quốc gia có nhu cầu cao nhất về yêu cầu xóa bỏ các rào cản trao đổi giáo dục xuyên quốc gia là Mỹ, Úc và Newzerland. Trên phạm vi quốc tế, quan điểm GDĐH là một loại hàng hóa đã được chính thức bàn thảo đến tại một tổ chức vốn không liên quan trực tiếp tới GDĐH, là WTO. WTO đã chủ trì các cuộc bàn thảo về giáo dục là hàng hóa và dịch vụ mua bán được (tradable) và ký kết thỏa ước chung về trao đổi thương mại các dịch vụ (GATS, General Agreement on Trade in Services). Điều đáng chú ý là giáo dục là khu vực mà các thành viên WTO còn ngại tự do hóa nhất (theo OECD 2002, trong số 146 thành viên WTO chỉ có 42 thành viên đồng ý cam kết về ít nhất một khu vực giáo dục).

Trong Thỏa ước tổng quát về thương mại dịch vụ ký năm 1995, đã có sự trù liệu cho thời gian mở cửa cho tự do mậu dịch là 10 năm. Theo đó, WTO phân biệt 04 hình thức tự do mậu dịch quốc tế về giáo dục: Thứ nhất là “tiêu thụ tại ngoại quốc”: đây là hình thức liên quan đặc biệt tới đại học. Học tại nước ngoài được xem như xuất khẩu dịch vụ giáo dục. Đòi hỏi trong lĩnh vực này là xóa bỏ những biện pháp hạn chế sự đi lại của sinh viên về thủ tục nhập cư, kiểm soát hối đoái, tương đương bằng cấp…Thứ hai là “cung cấp dịch vụ”, hình thức này ngày càng phát triển và phát triển rất nhanh, với việc bán giáo trình qua internet, CD-Rom, DVD.

Yêu cầu trong lĩnh vực này là tạo dễ dàng cho giới trẻ vào internet, hủy bỏ các luật lệ về giáo dục từ xa, công nhận tương đương cho các giáo trình, thừa nhận bừng cấp trên phạm vi quốc tế. Thứ ba là “hiện diện thương mại”, liên quan tới việc mở những trường đào tạo tư do các xí nghiệp nước ngoài kiểm soát. Nước sở tại phải xóa bỏ những cản trở như từ chối không công nhận trường nước ngoài, cấm cấp phát văn bằng…. Thứ tư là “hiện diện của nhân viên”, nghĩa là không được hạn chế số lượng của người đến giảng dậy.

Tuy vậy, với sự kiện thương thuyết tổng quát về tài trợ nông nghiệp thất bại tại Cancun năm 2003, đã 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kéo theo sự đình chỉ thương thuyết về dịch vụ trong đó có giáo dục. Giáo dục đại học, vì vậy tạm thời chưa chịu sự điều chỉnh của WTO, chưa hoàn toàn chính thức trở thành một loại hàng hóa dịch vụ được thừa nhận rộng rãi và công khai trên phạm vi quốc tế. Đối ngược với khuynh hướng coi giáo dục đại học là một loại hàng hóa, vẫn tồn tại khuynh hướng coi giáo dục đại học thuộc về lĩnh vực công. Có thể thấy điều đó qua các tuyên ngôn của các hiệu trưởng các trường đại học trong cuộc đấu tranh chống lại xu hướng đưa giáo dục vào phạm vi điều chỉnh của WTO.

Trong Tuyên bố chung của các hiệu trưởng các trường đại học công họp tại Brazil tháng 4/2002 nhấn mạnh: “Các thành viên của cộng đồng đại học châu Mỹ la tinh họp nhau tại đây, trong ý muốn chung xác nhận lại lần nữa những cam kết mà các chính phủ và cộng đồng đại học quốc tế đã xác nhận vào tháng 10 năm 1998 tại Paris trong dịp Hội nghị quốc tế về đại học, và khởi đi từ nguyên tắc rằng giáo dục là một tài sản công, yêu cầu chính phủ của các nước này đừng ký vào bất cứ một cam kết nào về lĩnh vực ấy trong khuôn khổ Thỏa ước tổng quát về thương mại các dịch vụ của WTO”. Trong một văn bản pháp lý mang tính quốc tế khác, Điều 26, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1984 ghi nhận: “mọi người đều được quyền ngang nhau để vào đại học trên cơ sở xứng đáng”. Ngang nhau nghĩa là không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, cũng như về giai tầng xã hội, phương tiện tài chính. Đồng thời, Thỏa ước quốc tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc công nhận năm 1976 cũng đã ghi nhận tại Điều 13: “Mọi người đều có quyền ngang nhau để vào đại học, trên cơ sở khả năng, bằng mọi phương tiện thích hợp, đặc biệt bằng cách thực hiện dần dần giáo dục miễn phí”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Chuyển Đổi Cơ Sở Đào Tạo Công Lập Thành Công Ty Cổ Phần Tại Việt Nam: Những Vấn Đề Pháp Lý" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình chuyển đổi các cơ sở đào tạo công lập thành công ty cổ phần tại Việt Nam, cùng với những vấn đề pháp lý liên quan. Tài liệu này không chỉ nêu rõ các thách thức mà các cơ sở giáo dục phải đối mặt trong quá trình chuyển đổi, mà còn phân tích các quy định pháp luật hiện hành và cách thức áp dụng chúng trong thực tiễn.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm việc hiểu rõ hơn về khung pháp lý, các bước cần thiết để thực hiện chuyển đổi, và những lợi ích tiềm năng mà mô hình công ty cổ phần có thể mang lại cho các cơ sở đào tạo. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án quản lý nhà nước đối với giảng viên các trường đại học công lập tại việt nam hiện nay, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đại học công lập. Ngoài ra, tài liệu Pháp luật về hoạt động tài chính của cơ sở giáo dục đại học tư thục sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định tài chính áp dụng cho các cơ sở giáo dục tư thục, từ đó có thể so sánh và đối chiếu với mô hình công lập. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho những ai quan tâm đến sự phát triển của hệ thống giáo dục tại Việt Nam.