Tổng quan nghiên cứu

Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước, hệ thống đại học ngoài công lập tại Việt Nam đã ghi nhận những bước phát triển vượt bậc. Trong năm học 2019 - 2020, cả nước có 65 cơ sở giáo dục đại học tư thục, chiếm tỷ lệ 27,4% trong tổng số 237 trường đại học trên toàn quốc, đảm nhận đào tạo hơn 313.000 sinh viên, tương đương 18,7% quy mô sinh viên cả nước. Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong việc chia sẻ gánh nặng ngân sách nhà nước, hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động tài chính của khối trường này vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, thiếu tính đồng bộ và chưa theo kịp thực tiễn vận hành kinh tế.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào sự bất cập trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài chính tại cơ sở giáo dục đại học tư thục, bao gồm hoạt động tạo lập vốn, quản lý thu chi, phân phối lợi nhuận và thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Mục tiêu cụ thể là làm sáng tỏ bản chất pháp lý - kinh tế của mô hình đại học tư thục, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật giai đoạn 2012 - 2022, và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế nhằm tạo môi trường đầu tư minh bạch, bình đẳng.

Nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi các cơ sở giáo dục đại học tư thục tại Việt Nam, đặt trong bối cảnh thi hành Luật Giáo dục đại học năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2018 và Luật Giáo dục năm 2019. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để tối ưu hóa cơ chế tự chủ tài chính, góp phần hiện thực hóa mục tiêu nâng quy mô người học tại các trường tư thục lên trên 25% trong giai đoạn tới, đồng thời bảo vệ quyền lợi kinh tế của hơn 300.000 người học thông qua việc chuẩn hóa cơ chế quản lý học phí và dịch vụ đào tạo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa lý luận kinh tế giáo dục và lý luận pháp luật kinh tế. Thứ nhất, luận văn vận dụng lý thuyết hàng hóa công và hàng hóa tư của các chuyên gia giáo dục đại chúng trên thế giới, khẳng định giáo dục đại học ngày nay mang tính chất của một loại hàng hóa dịch vụ đặc biệt kết hợp giữa lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân. Khi quy mô giáo dục chuyển dịch từ tinh hoa sang đại chúng, người học được hưởng lợi ích nghề nghiệp và gia tăng thu nhập nên có nghĩa vụ cùng chia sẻ chi phí đào tạo. Thứ hai, lý thuyết quản trị tài chính doanh nghiệp được áp dụng để phân tích các luồng vận động giá trị, cấu trúc vốn, và cơ chế phân phối thặng dư tài chính trong đơn vị sự nghiệp ngoài công lập.

Luận văn tập trung chuẩn hóa bốn khái niệm nền tảng:

  • Cơ sở giáo dục đại học tư thục: Tổ chức giáo dục bậc đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân do nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài góp vốn thành lập, tự bảo đảm điều kiện hoạt động bằng 100% nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước.
  • Hoạt động tài chính của đại học tư thục: Quá trình tạo lập, luân chuyển và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phục vụ mục tiêu đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển trường.
  • Tự chủ tài chính giáo dục: Quyền tự quyết định về quy mô vốn, mức thu học phí, định mức chi trả, phân bổ thặng dư thu chi gắn liền với nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm pháp lý.
  • Giá dịch vụ đào tạo: Khoản tiền cần thiết thu từ người học nhằm bù đắp toàn bộ chi phí đào tạo thực tế và tích lũy hợp lý, được chuyển đổi từ khái niệm học phí mang tính bao cấp sang cơ chế thị trường theo Luật Phí và lệ phí năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1993 đến năm 2022, kết hợp báo cáo tài chính công khai, đề án tuyển sinh và báo cáo kiểm toán của 65 trường đại học tư thục trên toàn quốc. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm 15 cơ sở giáo dục đại học tư thục đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam với quy mô đào tạo từ 5.000 đến trên 20.000 sinh viên, bao gồm các trường đa ngành như Đại học Duy Tân, Đại học Hồng Bàng, Đại học Hoa Sen, Đại học Đông Á, Đại học Thăng Long và Đại học Văn Lang. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm phản ánh đầy đủ các phân khúc đào tạo từ đại trà đến đặc thù và các cấu trúc sở hữu khác nhau.

Các phương pháp phân tích chính bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các quy phạm pháp luật trong Luật Giáo dục đại học, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và Luật Đất đai để đánh giá tính tương thích và mâu thuẫn nội tại.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu cơ chế tài chính giữa khối công lập và tư thục tại Việt Nam, đồng thời tham chiếu kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Hoa Kỳ và Brazil trong việc quản lý đại học tư thục vì lợi nhuận và phi lợi nhuận.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Lượng hóa các biến số về mức thu học phí, tỷ trọng nguồn thu từ nghiên cứu khoa học và các khoản trích lập quỹ. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này đảm bảo kết quả đánh giá vừa vững chắc về mặt lý luận lập pháp, vừa bám sát thực tiễn tài chính sinh động của các trường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nguồn thu của các trường đại học tư thục tại Việt Nam tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng. Khảo sát dữ liệu thực tế cho thấy nguồn thu từ học phí và các khoản lệ phí đào tạo chiếm từ 85% đến trên 95% tổng thu tài chính hàng năm của các trường. Trong khi đó, nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ chiếm tỷ lệ vô cùng khiêm tốn, đa số dưới mức 1,5% tổng doanh thu. Điều này tạo ra rủi ro thanh khoản rất lớn khi nhà trường hoàn toàn phụ thuộc vào biến động chỉ tiêu tuyển sinh.

Thứ hai, mức học phí có sự phân hóa sâu sắc giữa các khối ngành nhưng chưa đi kèm cơ chế kiểm soát chất lượng tương xứng. Trong năm học 2021 - 2022, mức học phí chính quy hệ đại trà dao động mạnh từ 17 triệu đồng đến 180 triệu đồng mỗi sinh viên cho một năm học. Khối ngành Y Dược ghi nhận mức cao nhất như tại Đại học Quốc tế Hồng Bàng với 180 triệu đồng, Đại học Tân Tạo với 150 triệu đồng và Đại học Duy Tân là 64 triệu đồng. Các ngành kinh tế, kỹ thuật phổ biến từ 20 triệu đến 50 triệu đồng. Quy định khống chế tốc độ tăng học phí tối đa 15% mỗi năm theo Nghị định 81/2021/NĐ-CP tuy bảo vệ người học nhưng cũng tạo sức ép lớn lên bài toán tái đầu tư cơ sở vật chất của các trường trong điều kiện trượt giá.

Thứ ba, việc khai thác nguồn thu từ kinh doanh dịch vụ và liên doanh liên kết còn kém hiệu quả và tiềm ẩn rủi ro pháp lý cao. Mặc dù Luật Giáo dục đại học cho phép trường tư thục thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn đầu tư, rất ít trường triển khai thành công mô hình này. Nghiên cứu thực tế ghi nhận trường hợp Trường Đại học Hoa Sen đầu tư 4 tỷ đồng chiếm 50% vốn vào công ty liên kết du lịch dịch vụ nhưng ghi nhận thua lỗ vượt giá trị ghi sổ, buộc phải xóa giảm khoản đầu tư trên báo cáo tài chính hợp nhất.

Thứ tư, chính sách ưu đãi tài chính của Nhà nước đối với khu vực đại học tư thục còn mang tính hình thức, thiếu khả thi. Dù được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 10% cho hoạt động xã hội hóa, các thủ tục miễn giảm tiền thuê đất theo Luật Đất đai 2013 diễn ra rất phức tạp, khiến đa số các trường vẫn phải chi trả chi phí mặt bằng rất cao hoặc tự mua đất với giá thương mại, làm gia tăng gánh nặng chi phí lên mỗi đầu sinh viên.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế trên xuất phát từ sự thiếu nhất quán trong tư duy lập pháp khi chưa dám thừa nhận thẳng thắn bản chất kinh doanh giáo dục. Trong lịch sử, việc chuyển đổi bắt buộc từ mô hình dân lập sang tư thục theo Nghị định 75/2006/NĐ-CP đã vô tình biến toàn bộ hệ thống đại học tư thành mô hình hoạt động vì lợi nhuận trên thực tế nhưng lại không có khung pháp lý riêng biệt để điều tiết việc chia cổ tức và bảo toàn vốn.

Khi so sánh với Trung Quốc sau đợt sửa đổi Luật Khuyến khích giáo dục tư nhân năm 2016, việc phân tách rạch ròi giữa hai nhóm trường phi lợi nhuận (được Nhà nước tài trợ đất, miễn thuế) và trường vì lợi nhuận (tự chủ định giá, chịu thuế thương mại) đã giúp minh bạch hóa dòng tiền và thu hút dòng vốn đầu tư bền vững. Tại Việt Nam, sự lúng túng này khiến các trường phi lợi nhuận như VinUni hay Fulbright gặp vướng mắc về cơ chế quản trị tài sản không phân chia, trong khi các trường vì lợi nhuận lại bị ràng buộc bởi các quy định quản lý hành chính sự nghiệp.

Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp qua bảng phân tích cơ cấu tài chính và biểu đồ tương quan thu - chi cho thấy rõ: các trường có tỷ lệ trích lập quỹ đầu tư phát triển dưới 25% thặng dư hàng năm thường có xu hướng sụt giảm chất lượng kiểm định đào tạo trong chu kỳ 5 năm tiếp theo. Việc không có cơ chế pháp lý bắt buộc kiểm toán độc lập công khai định kỳ dẫn đến nguy cơ nhà đầu tư rút vốn hoặc phân phối lợi nhuận quá mức, xâm phạm quyền lợi thụ hưởng cơ sở vật chất của người học.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Quốc hội cần sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học nhằm chính thức phân loại và luật hóa rành mạch hai mô hình: cơ sở giáo dục đại học tư thục vì lợi nhuận và cơ sở giáo dục đại học tư thục không vì lợi nhuận. Mục tiêu hoàn thành trước năm 2026, tạo cơ sở pháp lý để áp dụng hai chế độ kế toán, thuế và quản trị tài sản chuyên biệt cho 100% các trường.

Thứ hai, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn chuyển đổi toàn diện việc thu học phí sang cơ chế xác định giá dịch vụ đào tạo theo Luật Giá. Quy định rõ phương pháp tính đúng, tính đủ chi phí định mức kinh tế kỹ thuật trên từng sinh viên, duy trì biên độ điều chỉnh giá không vượt quá 15% mỗi năm, kèm theo điều kiện bắt buộc phải công khai tỷ lệ tối thiểu 10% doanh thu dành cho học bổng và hỗ trợ sinh viên khó khăn.

Thứ ba, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố hoàn thiện cơ chế giao đất sạch, miễn giảm tiền thuê đất ổn định trong thời hạn 50 năm cho các dự án xây dựng khuôn viên đại học tư thục đạt chuẩn quy hoạch diện tích tối thiểu 25 mét vuông mỗi sinh viên. Đồng thời, Bộ Tài chính cần duy trì ổn định mức thuế suất ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 10% xuyên suốt vòng đời dự án giáo dục.

Thứ tư, Hội đồng trường các trường đại học tư thục cần khẩn trương ban hành quy chế tài chính nội bộ chuẩn hóa, nâng mức trích lập bắt buộc vào Quỹ phát triển khoa học công nghệ lên tối thiểu 5% tổng nguồn thu hàng năm. Các trường cần chủ động thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ trực thuộc, đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng nhằm nâng tỷ trọng thu từ chuyển giao tri thức lên mức 5% đến 8% vào năm 2030, giảm dần sự phụ thuộc đơn cực vào học phí.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách tại Quốc hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và phân tích pháp lý chuyên sâu để phục vụ quá trình soạn thảo các dự thảo luật sửa đổi về giáo dục, đầu tư và cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập.

Nhóm thứ hai là các nhà đầu tư, thành viên Hội đồng trường và Ban giám hiệu các cơ sở giáo dục đại học tư thục. Tài liệu này là cẩm nang pháp lý hữu ích giúp xây dựng chiến lược cấu trúc nguồn vốn, tối ưu hóa chính sách học phí, thiết lập quy chế trích lập các quỹ nội bộ và kiểm soát rủi ro pháp lý trong hoạt động cho thuê, liên doanh liên kết và phân chia lợi tức.

Nhóm thứ ba là các giảng viên, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính và Quản lý giáo dục. Công trình mang lại khung lý thuyết cập nhật và phương pháp tiếp cận so sánh luật học đa chiều về mô hình kinh tế giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhóm thứ tư là người học và các tổ chức xã hội, hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dịch vụ giáo dục. Luận văn cung cấp thông tin minh bạch về cơ chế hình thành giá dịch vụ đào tạo, giúp sinh viên và phụ huynh nắm rõ quyền được tiếp cận thông tin tài chính công khai và cơ chế bảo vệ quyền lợi trước các quyết định tăng học phí.

Câu hỏi thường gặp

Trường đại học tư thục tại Việt Nam hiện nay có được quyền phân chia lợi nhuận cho nhà đầu tư không? Theo quy định của Luật Giáo dục đại học năm 2012 sửa đổi năm 2018, các trường đại học tư thục thông thường sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế và trích lập các quỹ bắt buộc được quyền phân phối phần thặng dư thu chi còn lại cho các thành viên góp vốn theo tỷ lệ vốn góp ghi trong quy chế tổ chức và hoạt động của trường.

Tại sao luận văn đề xuất chuyển đổi tên gọi từ học phí sang giá dịch vụ đào tạo? Theo Luật Phí và lệ phí năm 2015, học phí đã được đưa ra khỏi danh mục phí nhà nước để vận hành theo cơ chế giá thị trường. Việc sử dụng thuật ngữ giá dịch vụ đào tạo phản ánh đúng bản chất kinh tế tính đúng tính đủ chi phí tổ chức dịch vụ, xóa bỏ tư duy bao cấp và tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh giữa các trường.

Pháp luật quy định mức trần tăng học phí hàng năm của các trường tư thục như thế nào? Căn cứ Nghị định 81/2021/NĐ-CP, cơ sở giáo dục đại học tư thục được quyền tự chủ xác định mức thu học phí nhưng có trách nhiệm công khai mức thu cho toàn khóa học và thuyết minh lộ trình tăng học phí tối đa không vượt quá 15% mỗi năm học nhằm tránh gây sốc tài chính cho người học.

Nguồn thu từ nghiên cứu khoa học của đại học tư thục tại Việt Nam hiện chiếm tỷ lệ bao nhiêu? Số liệu khảo sát thực tế cho thấy nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ tại phần lớn các trường đại học tư thục chiếm tỷ lệ rất thấp, thường dưới 1,5% tổng nguồn thu hàng năm, cá biệt nhiều trường chỉ đạt dưới 0,5% do chưa đầu tư bài bản cho nhân lực nghiên cứu chất lượng cao.

Đại học tư thục được hưởng những chính sách ưu đãi thuế nào theo pháp luật hiện hành? Cơ sở giáo dục đại học tư thục đáp ứng điều kiện xã hội hóa được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10% đối với phần thu nhập từ hoạt động giáo dục đào tạo trong suốt thời gian hoạt động, đồng thời được miễn thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ dạy học, dạy nghề theo luật định.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện các mục tiêu nghiên cứu thông qua năm kết quả cốt lõi:

  • Xác lập cơ sở lý luận khẳng định đại học tư thục là chủ thể kinh tế đặc thù vận hành hoàn toàn bằng 100% vốn ngoài ngân sách, đòi hỏi khung pháp lý tự chủ cao nhưng phải gắn liền với trách nhiệm xã hội.
  • Bóc tách thực trạng mất cân đối tài chính khi nguồn thu học phí chiếm 85% đến 95%, trong khi mảng nghiên cứu khoa học chỉ đóng góp dưới 1,5% tổng thu.
  • Nhận diện những xung đột pháp lý giữa pháp luật giáo dục với pháp luật đầu tư, doanh nghiệp và đất đai trong việc quản lý tài sản và phân phối thặng dư.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc luật hóa rõ ràng mô hình đại học vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận theo thông lệ quốc tế.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về kiểm soát giá dịch vụ đào tạo dưới trần 15% mỗi năm, chính sách ưu đãi thuế 10% và miễn giảm tiền thuê đất 50 năm.

Tiến trình hoàn thiện thể chế pháp lý tài chính đại học tư thục cần được thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2024 - 2030. Các cơ quan quản lý nhà nước cùng các trường đại học tư thục cần tăng cường đối thoại chính sách, sớm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết nhằm kiến tạo môi trường đầu tư giáo dục minh bạch, chất lượng và phát triển bền vững.