Chương 1. Tại Chương 2, phương pháp được sử dụng trong việc phân tích, đánh giá những khái niệm pháp lý, những quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động tài chính của cơ sở giáo dục đại học tư thục. Bên cạnh đó, phương pháp còn được sử dụng để tổng kết, phân tích và đánh giá về thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học tư thục. Thứ hai, phương pháp so sánh luật học.
Phương pháp này được sử dụng để 6 nhận diện, làm rõ các đặc trưng trong hoạt động tài chính của cơ sở giáo dục đại học tư thục khi so sánh với cơ sở giáo dục đại học công lập và các chủ thể khác. Đồng thời, phương pháp cũng được sử dụng để so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật hiện hành với các quy định trước đó, từ đó nhận định xu thế thay đổi của pháp luật về hoạt động tài chính của cơ sở giáo dục đại học tư thục. Ngoài ra, phương pháp này còn được tác giả sử dụng nhằm mục đích so sánh pháp luật về cơ sở giáo dục đại học tư thục ở Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới. Qua đó tham khảo một số kinh nghiệm và đề ra phương án hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam.
Thứ ba, phương pháp thống kê. Phương pháp này được tác giả sử dụng tại Chương 2 của luận văn nhằm thu thập, đưa ra các số liệu về mức học phí, cơ cấu nguồn thu của một số cơ sở giáo dục đại học tư thục. Qua đó, đánh giá mức học phí của các trường trên thực tế, đồng thời chỉ ra sự mất cân đối trong cơ cấu nguồn thu của các cơ sở giáo dục đại học tư thục. Dự kiến các điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận Về mặt lý luận, tác giả đã đưa ra các phân tích về khái niệm, đặc điểm của cơ sở giáo dục đại học tư thục cũng như thực trạng pháp luật về hoạt động tài chính của cơ sở này.
Bên cạnh đó, luận văn cũng đã đưa ra những phân tích, bình luận về chính sách khuyến khích đầu tư và hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực giáo dục đại học ngoài công lập. Từ đó, tác giả đã đưa ra những góp ý hoàn thiện pháp luật, hướng đến mục đích xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi nhằm khuyến khích phát triển mô hình cơ sở giáo dục đại học tư thục. Tác giả cũng hy vọng rằng, luận văn này có thể là tài liệu tham khảo mang tính khoa học về pháp luật đối với hoạt động tài chính của cơ sở giáo dục đại học tư thục để giảng viên, sinh viên nghiên cứu và học tập. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TƯ THỤC 1.1 Khái quát chung về cơ sở giáo dục đại học tư thục 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ sở giáo dục đại học tư thục (i) Lịch sử hình thành và phát triển của cơ sở giáo dục đại học tư thục trên thế giới Lịch sử của sự phát triển giáo dục đại học trên thế giới trải qua các giai đoạn từ tinh hoa (elit) sang đại chúng (mass) tiến đến phổ cập (universal)2.
Các trường đại học đầu tiên trên thế giới đều chú trọng vấn đề truyền dạy các tín điều, văn học, thần học, hành chính,… phục vụ cho bộ máy thống trị và các nhà truyền giáo, tức là cho giới tinh hoa. Dưới sự tác động của nền sản xuất - kinh tế hiện đại, các chương trình đào tạo gắn với sản xuất và đời sống được đưa vào trường đại học. Giáo dục đại học trên thế giới bắt đầu chuyển mục tiêu từ đáp ứng nguồn nhân lực cho nhà nước sang việc đáp ứng nhân lực cho nền kinh tế. Số lượng sinh viên từ đó tăng lên nhanh chóng, nền giáo dục đại học các quốc gia trở thành nền giáo dục đại chúng.
Khi nền giáo dục đại học trở thành đại chúng, áp lực của số lượng sinh viên gia tăng nhanh chóng khiến ngân sách các quốc gia không thể tiếp tục bao cấp cho giáo dục đại học. Trước tình hình ấy, quan niệm về giáo dục đại học cũng thay đổi. Trước đây, giáo dục đại học được xem là một lợi ích công, một phúc lợi xã hội mà mọi người đều có quyền tiếp cận và hưởng thụ như nhau, nhà nước có nghĩa vụ đảm bảo và đáp ứng nhu cầu học tập của mọi công dân. Tuy nhiên, với xu hướng đại chúng hóa giáo dục, giáo dục đại học đã mang một phần lợi ích tư khi việc học gắn liền mục tiêu cá nhân đầu tư để có nghề nghiệp nhằm nâng cao thu nhập của chính họ.
Do đó, quan niệm giáo dục đại học cũng mang một phần lợi ích tư dần được chấp nhận. Bên cạnh đó, trên phương diện cung ứng hàng hóa dịch vụ, giáo dục đại học đã được coi là một lĩnh vực dịch vụ. Tuy nhiên, đây là hàng hóa dịch vụ đặc biệt, chứa đựng cả lợi ích công cộng và lợi ích tư. Người ta cũng cho rằng văn bằng đại học mang lợi ích về cho người được văn bằng nhiều hơn là cho xã hội.
Do đó, logic tất yếu là người được hưởng lợi ích tư phải chi trả để đạt được lợi ích đó và các trường 2 Martin Trow, “Reflections on the Transition from Elite to Mass to Universal Access: Forms and Phases of Higher Education in Modern Societies since WWII”, nguồn tại https://escholarship.org/uc/item/96p3s213, truy cập ngày 10/7/2021. 8 đại học tư cần được thành lập để bán dịch vụ giáo dục đại học3. Chính phủ các nước cũng ngày càng chú trọng tới việc dùng thị trường, khu vực ngoài công lập vào việc cung ứng dịch vụ giáo dục, từ đó đa dạng hóa dịch vụ giáo dục và có thêm nhiều tổ chức cung cấp dịch vụ này4. Xu hướng đại chúng hóa giáo dục đại học và sự chuyển đổi quan niệm giáo dục đại học không còn là một lợi ích công thuần túy, cùng với xu hướng tư nhân hóa giáo dục nói chung trên thế giới đã tạo nên sự bùng phát mạnh mẽ của các cơ sở giáo dục đại học tư thục trong những thập niên cuối của thế kỷ XX.
Cho đến thập kỷ đầu tiên của thế kỷ này, thị phần của giáo dục đại học tư nhân toàn cầu tăng từ 28% lên 33% với tổng số sinh viên tăng từ khoảng 27 triệu lên gần 57 triệu5. (ii) Lịch sử hình thành và phát triển của cơ sở giáo dục đại học tư thục tại Việt Nam Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, những thay đổi về thể chế chính trị, quan điểm của nhà cầm quyền mà sự xuất hiện, xu hướng phát triển của khu vực tư trong lĩnh vực giáo dục đại học tại mỗi quốc gia là khác nhau. Tại Việt Nam, sự chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã mở đường cho sự xuất hiện của những cơ sở giáo dục đại học tư thục. Khi mới độc lập vào năm 1954, miền Bắc Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) không cho phép tồn tại giáo dục đại học tư nhân.
Sau năm 1975, khu vực đại học tư gồm 11 trường với khoảng 30 ngàn sinh viên (1/5 tổng số sinh viên toàn quốc) đã bị quốc hữu hóa6. Đại hội Đảng lần thứ VI vào tháng 12/1986 là một dấu mốc đổi mới đường lối phát triển kinh tế xã hội nước ta, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đường lối đổi mới chung đó, hệ thống giáo dục đại học nước ta cũng đã triển khai những đổi mới căn bản. 3 Lâm Quang Thiệp, “Xu hướng đại chúng hóa giáo dục đại học, và sự thay đổi một số quan niệm và chính sách (Thế giới và Việt Nam)”, nguồn tại http://dbcl.vn/van-ban-cua-aun-qa/xu-huong-dai-chung-hoa- giao-duc-dai-hoc-va-su-thay-doi-mot-so-quan-niem-va-chinh-sach-the-gioi-va-viet-nam-gs-ts-lam-quang- thiep-dh-thang-long/, truy cập ngày 15/7/2021, tr.
4 Ka Ho Mok, “Tầm quan trọng ngày càng tăng của tư nhân trong giáo dục: Thách thức trong quản trị đại học ở Trung Quốc”, Phạm Thị Ly dịch, nguồn tại http://www.net/?p=2080, truy cập ngày 20/5/2021. Levy, “Cấu trúc quốc gia của giáo dục đại học tư nhân toàn cầu”, nguồn tại http://ihe.vn/so- 97/cau-truc-quoc-gia-cua-giao-duc-dai-hoc-tu-nhan-toan-cau/, truy cập ngày 22/3/2021. 6 Quang Chau, “Việt Nam: trường hợp duy nhất độc quyền vì lợi nhuận”, nguồn tại http://ihe.vn/so- 103/viet-nam-truong-hop-duy-nhat-doc-quyen-vi-loi-nhuan/, truy cập ngày 22/03/2021. 9 Năm 1987, Hội nghị Hiệu trưởng Đại học tổ chức tại Nha Trang là một bước ngoặt quan trọng của nền giáo dục đại học nước ta, là nơi đề xuất những chủ trương, nguyên tắc lớn về đổi mới giáo dục đại học.
Trong đó, có hai nội dung quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành của cơ sở giáo dục đại học tư thục, cụ thể: Một là, giáo dục đại học không chỉ đáp ứng nhu cầu của biên chế nhà nước và kinh tế quốc doanh mà còn phải đáp ứng nhu cầu của các thành phần kinh tế khác và đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân; Hai là, giáo dục đại học không chỉ dựa vào ngân sách nhà nước mà còn dựa vào các nguồn lực khác có thể huy động được: sự đóng góp của các cơ sở sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, của cộng đồng, của người học (thông qua học phí); nguồn vốn do các hoạt động của trường về nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, dịch vụ làm ra; nguồn vốn do các quan hệ quốc tế mang lại7. Như vậy, mô hình cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập tại Việt Nam đã được khuyến khích phát triển từ những năm cuối của thế kỷ XX. Trường đại học ngoài công lập đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất là “Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long”, được thành lập thí điểm vào tháng 12/1988, sau đó được công nhận vào năm 1993 với tên gọi “Trường Đại học Dân lập Thăng Long”. Năm 1993, Quy chế đại học tư thục ban hành kèm theo Quyết định số 240/1993/QĐ-TTg ngày 24/5/1993 của Thủ tướng Chính phủ đã tạo điều kiện cho một loạt các cơ sở giáo dục đại học tư thục ra đời.
Tuy nhiên, tại thời điểm đó xã hội vẫn chưa quen với việc tư nhân đầu tư vào giáo dục, tên gọi “đại học tư thục” được xem là nhạy cảm vì mang yếu tố thương mại hóa giáo dục. Quyết định số 196/TCCB ngày 21/01/1994 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế tạm thời trường đại học dân lập sau đó đã thay thế tên gọi “đại học tư thục” thành “đại học dân lập”.