phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 Chƣơng. Các nội dung cơ bản gồm: CHƢƠNG 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền của ngƣời sử dụng lao động và sự điều chỉnh của pháp luật lao động CHƢƠNG 2: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về bảo vệ quyền của ngƣời sử dụng lao động và thực tiễn thực hiện CHƢƠNG 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động về bảo vệ quyền của ngƣời sử dụng lao động và nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƢỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG 1. Khái niệm về bảo vệ quyền của ngƣời sử dụng lao động “Quyền” theo nghĩa chung nhất là “khả năng thực hiện ý chí của mình được pháp luật hoặc xã hội chấp nhận, là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành, và khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại” [2]. Quyền nói chung đƣợc hiểu là “thể, sức mạnh, lợi lộc được hưởng do pháp luật công nhận hoặc do địa vị đem lại” [3].
“Quyền” nói chung, theo Từ điển luật học, đƣợc hiểu là những việc mà một ngƣời đƣợc làm mà không bị ai ngăn cản, hạn chế (98, tr. Quyền của NSDLĐ là quyền chủ thể NSDLĐ. Quyền chủ thể là “cách thức xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể được tiến hành. Nói cách khác, quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định được pháp luật cho phép.
Nói là khả năng có nghĩa là chủ thể có thể lựa chọn giữa việc xử sự theo cách thức mà nó được phép tiến hành hoặc không xử sử như vậy” [4]. Từ việc xem xét định nghĩa trên, có thể đƣa ra định nghĩa chung nhất về quyền của NSDLĐ nhƣ sau: Quyền của NSDLĐ là khả năng của NSDLĐ xử sự theo một cách thức nhất định khi tham gia quan hệ lao động. Bảo có nghĩa là giữ, vệ có nghĩa là “chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn” [25, tr. Khái niệm bảo vệ quyền của NSDLĐ không đƣợc định nghĩa cụ thể trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng nhƣ luật pháp một số quốc gia nhƣ: 6 Mỹ, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc và cả Việt Nam.
Tuy nhiên, pháp luật lao động của các nƣớc đều ít nhiều ghi nhận việc bảo vệ quyền của NSDLĐ trong nhiều chế định và bảo vệ họ ở mức độ cần thiết. Về nội dung, quyền và lợi ích của NSDLĐ đƣợc đảm bảo trên nhiều lĩnh vực nhƣng nhất thiết phải trong khuôn khổ luật định. Khuôn khổ đó đảm bảo cho NSDLĐ đạt đƣợc mục đích chính đáng của mình ở mức tối đa nhƣng không làm phƣơng hại đến NLĐ và các chủ thể khác, đến đời sống xã hội và lợi ích chung. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sử dụng lao động cũng là cách giải quyết vấn đề lợi ích hợp lý trong xã hội, yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế thị trƣờng.
Thông qua việc bảo vệ này mà quan hệ lao động có thể phát triển bền vững, NLĐ cũng có điều kiện ổn định việc làm, đảm bảo cuộc sống. Nhƣ vậy, có thể đƣa ra định nghĩa chung nhất về bảo vệ quyền của NSDLĐ tức là chống lại các hành vi xâm phạm đến quyền của NSDLĐ để giữ cho họ đƣợc tham gia vào các quan hệ xã hội và đƣợc hƣởng các quyền lợi hợp pháp. Để hiểu rõ hơn về bảo vệ quyền của NSDLĐ, luận văn sẽ nghiên cứu thêm các đặc điểm cơ bản về quyền của NSDLĐ, cụ thể: - Quyền của NSDLĐ thể hiện ý chí đơn phƣơng của NSDLĐ Đây đƣợc coi là đặc điểm quan trọng trong quyền của NSDLĐ, thể hiện quyền lực đƣợc Nhà nƣớc chuyển giao và thừa nhận với tƣ cách chủ thể quản lý đối với NLĐ. Quyền lực đơn phƣơng này còn thể hiện sức mạnh và lợi thế vốn có của NSDLĐ trong mối quan hệ với NLĐ khi tham gia QHLĐ.
Tính đơn phƣơng trong quyền của NSDLĐ đƣợc biểu hiện ra bên ngoài bằng nhiều hình thức nhƣ ra lệnh, điều khiển, yêu cầu, bắt buộc,… đối với NLĐ, đƣợc thể hiện ở mức độ khác nhau. Trƣờng hợp NSDLĐ toàn quyền quyết định một vấn đế nào đó trong QHLĐ, không cần tham khảo ý kiến của 7 chủ thể nào khác tức là tính đơn phƣơng đƣợc thực hiện một cách triệt để. Trƣờng hợp NSDLĐ cần đảm bảo sự dân chủ cũng nhƣ lợi ích của các chủ thể trong QHLĐ, NLĐ hoặc đại diện của NLĐ, NSDLĐ vẫn phải tham khảo ý kiến của họ trƣớc khi quyết định một vấn đề nào đó. Tuy nhiên, trong trƣờng hợp tham khảo mà các bên không thống nhất ý kiến, thì NSDLĐ vẫn có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó.
- Quyền của NSDLĐ luôn bị chi phối từ ý chí của các chủ thể trong quan hệ lao động Do xuất phát từ bản chất của QHLĐ là đƣợc hình thành trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện, mang tính dân chủ và công bằng, vì thế quyền của NSDLĐ đƣợc thực hiện không chỉ trên cơ sở ý chí đơn phƣơng của mình mà còn dựa trên kết quả của sự thoả thuận về ý chí với NLĐ hoặc với tổ chức công đoàn. Theo đó, quyền của NSDLĐ đƣợc thực hiện trên cơ sở những văn bản mà các bên thoả thuận ký kết nhƣ: hợp đồng lao động, thoả ƣớc lao động tập thể,… Nhƣ vậy, trong QHLĐ ở đơn vị sử dụng lao động, kết quả thoả thuận về ý chí giữa các bên thể hiện trong các văn bản cũng là một trong các căn cứ để NSDLĐ chỉ đạo, điều hành NLĐ thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động. Cũng chính kết quả của sự thoả thuận này đã tác động tới quyền của NSDLĐ - mang tính dân chủ hơn. - Quyền của NSDLĐ đƣợc thực hiện trong giới hạn quy định của pháp luật Quyền của NSDLĐ là quyền thuộc phạm trù pháp lý nên là quyền có giới hạn.
NSDLĐ chỉ đƣợc thực hiện quyền của mình trên cơ sở phạm vi mà Nhà nƣớc trao quyền và đƣợc quy định cụ thể trong PLLĐ. Cùng với việc xác định và bảo vệ những hoạt động mà NSDLĐ đƣợc phép thực hiện, pháp luật đồng thời xác định và ngăn ngừa những hoạt động mà NSDLĐ không đƣợc phép thực hiện khi tham gia quan hệ lao động. Việc pháp luật quy định nhƣ 8 vậy nhằm mục đích không chỉ bảo vệ lợi ích của NSDLĐ trong quá trình sản xuất, kinh doanh, mà pháp luật còn phòng tránh các trƣờng hợp NSDLĐ lạm dụng quyền này mà xâm phạm đến quyền và lợi ích của chủ thể khác, đặc biệt là lợi ích của NLĐ khi tham gia QHLĐ. Nếu vì lợi ích hoặc vì lý do nào đó mà NSDLĐ lạm quyền, xâm phạm quyền và lợi ích của NLĐ, tập thể lao động hoặc ảnh hƣởng đến lợi ích của Nhà nƣớc thì hành vi đó sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Quyền của NSDLĐ mang tính hành chính Nếu nhƣ Nhà nƣớc thực hiện quyền lực của mình bằng pháp luật áp dụng với các đối tƣợng trong quan hệ xã hội ở phạm vi quốc gia thông qua các cơ quan hành chính do Nhà nƣớc thành lập, thì NSDLĐ thực hiện quyền chủ yếu thông qua các văn bản nội bộ do đơn vị ban hành hoặc thoả thuận với các chủ thể tham gia QHLĐ trong đơn vị của mình. Đây là những văn bản đƣợc ban hành áp dụng với mọi NLĐ hoặc đối với từng cá nhân NLĐ trong đơn vị hay từng bộ phận của đơn vị. Các quy tắc hợp lý và quy định cần thiết trong văn bản này là cơ sở quan trọng để NSDLĐ thực hiện quyền yêu cầu NLĐ buộc phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quá trình lao động. Quyền của NSDLĐ mang tính hành chính thể hiện ở hầu hết văn bản đƣợc ban hành bao gồm hai nội dung chính: các quy định buộc NLĐ phải thực hiện (đi làm đúng giờ; thực hiện các quy định về sử dụng máy móc, thiết bị, an toàn lao động, vệ sinh lao động; bảo vệ tài sản của đơn vị;…) và các biện pháp xử lý đối với NLĐ có hành vi vi phạm các quy định đã đặt ra (xử lý kỷ luật, bồi thường thiệt hại vật chất, tạm đình chỉ công việc của NLĐ).
Sự cần thiết bảo vệ quyền của ngƣời sử dụng lao động trong pháp luật lao động QHLĐ đƣợc hình thành trên cơ sở thƣơng lƣợng thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ. Trong quan hệ này, NSDLĐ thƣờng ở vị thế mạnh hơn so với 9 NLĐ bởi họ là ngƣời có tài sản, quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp. Cùng với đó, NSDLĐ có quyền tổ chức và quản lý lao động, có quyền kiểm tra giám sát quá trình lao động của NLĐ, do vậy trong PLLĐ nguyên tắc bảo vệ NLĐ đƣợc đặt lên hàng đầu. Song bên cạnh đó, PLLĐ cũng phải bảo vệ quyền của NSDLĐ.
Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ xuất phát từ một số lý do sau: Một là, khi đứng trƣớc pháp luật địa vị pháp lý của hai chủ thể này là ngang nhau trong quan hệ pháp luật. Do vậy, với tƣ cách là một bên chủ thể trong quan hệ PLLĐ, NSDLĐ cũng cần phải đƣợc bảo đảm những quyền của mình. Bảo vệ quyền của NSDLĐ là nguyên tắc cơ bản quy định tại khoản 2 Điều 57 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định”, khoản 2 Điều 4 BLLĐ năm 2012 quy định: “Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, quản lý lao động đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội” và các văn bản hƣớng dẫn thi hành, là tƣ tƣởng chủ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật. Hai là, xuất phát từ quy định PLLĐ dƣờng nhƣ đều nghiêng về bảo vệ NLĐ - đó là bảo vệ nhiều quyền lợi cho NLĐ nhƣng lại quên mất quyền lợi của NSDLĐ dẫn đến sự mất cân bằng trong mối QHLĐ.