CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1.1 Một số vấn đề lý luận về lao động cưỡng bức trong quan hệ lao động 1.1 Khái niệm lao động cưỡng bức trong quan hệ lao động LĐCB là thuật ngữ được sử dụng tương đối phổ biến trong các văn kiện pháp lý của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), là vấn đề đã và đang bị lên án trên toàn thế giới5. LĐCB được định nghĩa như sau trong Công ước số 29 của ILO: LĐCB hoặc bắt buộc là chỉ mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc phải làm dưới sự đe doạ của một hình phạt nào đó và bản thân người đó không tự nguyện làm. Theo quy định trên của ILO, khái niệm về LĐCB đã cho thấy: Về chủ thể, bất cứ đối tượng nào cũng có thể là chủ thể của LĐCB, không phân biệt giới tính, tôn giáo, trình độ chuyên môn, tay nghề, độ tuổi. Về phạm vi, Công ước số 29 đưa ra phạm vi khá rộng khi xác định LĐCB không chỉ nằm trong các hành động như đánh đập, cưỡng ép, nhục mạ mà mang tính quy định chung là hành động mang tính đe dọa, bạo lực thậm chí tước đoạt các quyền cơ bản của NLĐ.
Đối tượng của sự đe dọa hay áp dụng các hành động hoặc hình phạt nhằm ép buộc NLĐ thực hiện các công việc họ không tự nguyện không chỉ bản thân NLĐ mà còn có thể là thân nhân của họ. Về phạm vi công việc và dịch vụ cần được hiểu là không chỉ bao gồm những công việc, dịch vụ hợp pháp mà còn là những công việc bất hợp pháp, đặc biệt đối với những công việc bất hợp pháp dễ là nơi phát sinh ra LĐCB. Về ý chí của của chủ thể thực hiện, ý chí tự nguyện hay không tự nguyện của NLĐ cũng là một tiêu chí quan trọng để xác định LĐCB, sự thiếu tự nguyện này có thể xuất phát từ nhiều lý do như bị bắt cóc, lừa gạt, bị hạn chế đi lại, bị rơi tình trạng cô lập6. Về hậu quả, thông qua các hành động như ép buộc hoặc đe dọa, NLĐ phải thực hiện công việc trái với ý muốn của họ hoặc sự đe dọa này có liên quan đến nhân thân của NLĐ buộc họ phải thực hiện hoặc không thực hiện một công việc được 5 Nguyễn Tiến Dũng (2016), “Khái niệm về lao động cưỡng bức”, Tạp chí Luật học, số 12/2016, tr.
6 Nguyễn Tiến Dũng (2016), tlđd (5), tr. Nếu không thực hiện NLĐ hoặc thân nhân của họ có thể sẽ hứng chịu một hình phạt. Bên cạnh đó, ILO đã chi tiết hơn về khái niệm LĐCB như sau: LĐCB đề cập đến tình huống trong đó những người bị ép buộc làm việc bằng cách sử dụng bạo lực hoặc đe dọa, hoặc bằng các biện pháp tinh vi hơn như tích lũy nợ, lưu giữ giấy tờ tùy thân hoặc đe dọa tố cáo với cơ quan xuất nhập cảnh, LĐCB, các hình thức nộ lệ đương thời, nợ nần và buôn người là những thuật ngữ có liên quan chặt chẽ với nhau dù không giống nhau về mặt pháp lý. Tuy nhiên, hầu hết tình huống nô lệ hoặc buôn người đều nằm trong định nghĩa của ILO về LĐCB7.
Dựa theo khái niệm trên, ILO còn nêu ra một số hành vi không mang tính bạo lực hay ép buộc nhưng vẫn mang ý nghĩa LĐCB như dùng cách tích lũy nợ của NLĐ, giữ giấy tờ tùy thân, trường hợp này thường xảy ra trong các quan hệ lao động hợp pháp, các phương thức như đe dọa tố cáo với cơ quan xuất nhập cảnh sẽ thường xảy ra trong các quan hệ lao động trái pháp luật, NLĐ trong trường hợp này thường là xuất phát từ nguồn lao động bất hợp pháp, chịu sự giám sát và làm việc dưới sự bóc lột nặng nề. LĐCB không chỉ tương đương với tiền lương thấp hoặc điều kiện làm việc kém mà còn thể hiện sự hạn chế ở quyền tự do con người, vi phạm nhân quyền và hoàn toàn trái ngược với “việc làm bền vững” hoặc “phát triển con người” theo định nghĩa tương ứng của ILO và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP). LĐCB cũng bao gồm các tình huống như nô lệ, thực hành tương tự như nô lệ, nô lệ nợ hoặc chế độ nông nô như được định nghĩa trong các công cụ quốc tế khác nhau. Dựa vào hai tiêu chí thiết yếu của định nghĩa quốc tế về LĐCB là: “đe dọa hình phạt” và “không tự nguyện”.
Theo đó, LĐCB xảy ra khi mọi người đang bị ép buộc về tâm lý và/hoặc thể chất (đe dọa của một hình phạt) để thực hiện một số công việc hoặc dịch vụ mà họ sẽ không chấp nhận hoặc không chấp nhận ở các điều kiện hiện hành (sự không tự nguyện)8. Pháp luật lao động Việt Nam không định nghĩa về thuật ngữ LĐCB, mà thay vào đó là định nghĩa cưỡng bức lao động, cụ thể tại Khoản 7 Điều 1 BLLĐ 2019 quy định “cưỡng bức lao động là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để ép buộc người lao động phải làm việc trái ý muốn của họ”. Có thể 7 “The meanings of Forced Labour”, The meanings of Forced Labour (ilo.org), truy cập ngày 22/03/2021. 8 ILO (2005), Forced Labour and Human Trafficking: Estimating the Profits, ILO, tr.
12 thấy khái niệm cưỡng bức lao động theo quy định của BLLĐ 2019 được xây dựng trên tinh thần của Công ước số 29, nhấn mạnh và bám sát hai yếu tố chính của LĐCB là tính ép buộc và trái ý muốn. Hiện nay, có nhiều ý kiến về hai khái niệm “LĐCB” và “cưỡng bức lao động”, có quan điểm cho rằng hai thuật ngữ trên đều hướng tới một khái niệm chung và có cùng ý nghĩa như tác giả Phan Thị Thanh Huyền trong luận án tiến sĩ của mình đã cho rằng hai thuật ngữ “cưỡng bức lao động” về bản chất giống khái niệm “LĐCB”9, có quan điểm cho rằng hai thuật ngữ trên tuy đều hướng tới một khái niệm chung và có ý nghĩa gần như nhau nhưng không thể đồng nhất cách hiểu như tác giả Trịnh Thị Thu Huyền đã đưa ra ý kiến trong một bài viết trên tạp chí Xây dựng pháp luật là hai thuật ngữ này sẽ được hiểu theo hướng khác nhau về phạm vi và nội hàm10. Theo quan điểm của tác giả, về mặt ngữ nghĩa LĐCB là một cụm danh từ, có thể được hiểu như một vấn nạn, một thực trạng mà khi xảy ra NLĐ bị xâm phạm đến quyền tự do, sức khỏe cũng như danh dư nhân phẩm, trong khi cưỡng bức lao động được hiểu như là một hành vi, hành động mang tính ép buộc, bạo lực mang ngữ nghĩa là một động từ, khái quát hành vi rất khó và liệt kê hành vi thì sẽ phức tạp và khó có thể bao quát. Vì vậy, LĐCB có phạm vi rộng hơn, cưỡng bức lao động được xem là một nội dung nằm trong nội hàm của LĐCB.
Tuy nhiên, cả hai thuật ngữ đều hướng tới đặc điểm nhận diện chung là NLĐ đều phải làm hoặc không làm một công việc hoặc dịch vụ trong tình trạng không tình nguyện, bị ép buộc và là biểu hiện của sự bất bình đẳng và bất công. Từ một số phân tích như trên, tác giả cho rằng khái niệm LĐCB có thể được hiểu tương đối đầy đủ như sau: LĐCB là một thực trạng của quan hệ lao động trong đó NLĐ phải làm những công việc, dịch vụ mà họ không tình nguyện nhưng buộc phải thực hiện do có sự ép buộc hoặc đe dọa từ một hoặc một nhóm người có quyền hạn nhất định.2 Đặc điểm của lao động cưỡng bức trong quan hệ lao động Thứ nhất, chủ thể có thể thực hiện LĐCB là NSDLĐ hoặc người được NSDLĐ ủy quyền. 9 Phan Thị Thanh Huyền (2015), Điều chỉnh pháp luật lao động Việt Nam đối với lao động cưỡng bức, Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, tr. 10 Trịnh Thị Thu Hiền (2020), “Hoàn thiện quy định về Cưỡng bức lao động”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số 4 (337), tr.
13 Chủ thể là NSDLĐ có thể là cá nhân hoặc tổ chức với đặc điểm luôn ở vị trí chủ động và nhiều quyền lực. NSDLĐ có thể ép buộc NLĐ làm việc trái với ý muốn của họ thông qua các thủ đoạn khác nhau như đe dọa bằng vũ lực, đe dọa bằng lời nói hoặc bằng các thủ đoạn tinh vi hơn như lợi dụng tình thế khó khăn, giữ các giấy tờ tùy thân của NLĐ để buộc họ phải chấp nhận làm việc. Mối quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ trên cơ sở lý thuyết được pháp luật quy định và bảo vệ là mối quan hệ bình đẳng, tự nguyện, ngang nhau về quyền và nghĩa vụ. Tuy nhiên, trên thực tế NLĐ luôn là người ở thế bị động và bị hạn chế nhiều về quyền lợi.
Ngoài chủ thể là NSDLĐ, chủ thể trong quan hệ lao động hoặc có liên quan đến quan hệ lao động như cấp quản lý, người NSDLĐ ủy quyền quản lý, về quan hệ lao động họ cũng là NLĐ tuy nhiên khi được giao quyền hạn thay NSDLĐ quản lý những NLĐ khác thì họ cũng có thể trở thành chủ thể thực hiện LĐCB nếu sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để ép buộc những NLĐ khác, thậm chí giữa những NLĐ với nhau cũng cũng có thể xảy ra LĐCB nếu một hoặc một nhóm NLĐ được giao quyền hạn, nhiệm vụ cao hơn. Thứ hai, nạn nhân của LĐCB. Mỗi đối tượng NLĐ khác nhau sẽ chịu những hình thức LĐCB khác nhau, nên việc xác định nạn nhân của LĐCB rất quan trọng. Theo đó, nạn nhân chủ yếu của LĐCB có thể kể đến NLĐ nói chung, trong đó trẻ em và phụ nữ là hai đối tượng đặc biệt vì họ có thể trở thành nạn nhân của LĐCB với những hình thức đặc thù như như bị lừa gạt, lạm dụng làm nô lệ tình dục và nô lệ lao động, còn đối với nam giới, họ dễ bị ép buộc làm các công việc nặng nhọc, mang tính nguy hiểm cao hơn.
Do đó, xác định đối tượng NLĐ là nạn nhân của LĐCB khác nhau thì phương thức bảo vệ cũng như giải quyết các hậu quả xảy ra cũng sẽ khác nhau. Ngoài ra, đặc điểm chung của nạn nhân LĐCB còn là những người thiếu trình độ ngoại ngữ, kiến thức pháp luật, có ít lựa chọn trong việc mưu sinh, thuộc về nhóm dân tộc hoặc tôn giáo thiểu số, bị khuyết tật hoặc có những đặc tính khác mà vì đó họ bị cô lập khỏi cộng đồng dân cư11. Lao động nhập cư là một trong những nhóm dễ bị cưỡng bức lao động nhất.