Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu. Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền của người lao động trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động ở Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động ở Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Bảo vệ quyền của NLĐ và pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ từ lâu đã là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước và đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Tình hình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền của người lao động và pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động 1.
Về khái niệm quyền của người lao động Để làm rõ khái niệm quyền của NLĐ và bảo vệ quyền của NLĐ, nhiều tác giả trong các công trình của mình đã xuất phát từ quyền con người nói chung. Đó là: Cuốn sách “International Human Rights” (Nhân quyền Quốc tế) của tác giả Philip Alston và Ryan Goodman – Oxford University, 2013. Cuốn sách giới thiệu những nội dung cơ bản về hệ thống quyền con người theo pháp luật quốc tế trên cơ sở các nội dung về các quyền của con người thông qua các văn kiện pháp lý của các tổ chức quốc tế như UN, ILO… Trong nghiên cứu này, các tác giả đã đề cập đến quyền của NLĐ và đánh giá quyền con người trong lĩnh vực lao động là một bộ phận trong hệ thống quyền con người, thuộc phạm trù các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa [197]. Luận án tiến sĩ “Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Thơm, bảo vệ năm 2016.
Khi đánh giá quyền của lao động nữ dưới góc độ quyền con người, tác giả nhận định: “Có nhiều định nghĩa về quyền con người nhưng nhận xét chung thì quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được bảo đảm bằng pháp luật quốc gia và quốc tế” [46, tr. Theo đó, khi tiếp cận quyền con người dưới góc độ pháp luật lao động, không thể phủ nhận quyền của NLĐ phải được đảm bảo như quyền con người, mỗi NLĐ dù là nam hay nữ đều được bảo vệ dưới góc độ quyền công dân ở mỗi quốc gia, đồng thời là quyền con người được quốc tế công nhận và bảo đảm. Chính vì vậy, dù pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế, NLĐ được bảo đảm những quyền này trước hết họ là con người. Luận án tiến sĩ “Quyền có việc làm của người lao động theo pháp luật lao động Việt Nam” của tác giả Trần Thị Tuyết Nhung, bảo vệ năm 2016 cho rằng: “Mặc dù có nhiều định nghĩa về quyền con người, nhưng ở góc độ nào đó thì quyền con người đều được cấu thành bởi hai yếu tố: Thứ nhất, đó là những đặc quyền vốn có tự nhiên của con người và chỉ con người mới có.
Thứ hai, đó là yếu tố pháp lý” [128, tr. Hay nói cách khác, các quyền tự nhiên vốn có đó khi được pháp luật điều chỉnh, ghi nhận sẽ trở thành quyền con người. Và quyền con người chính là sự thống nhất giữa hai yếu tố khách quan và chủ quan được ghi nhận trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Trong cuốn sách “Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam” 9 của tác giả Lê Thị Hoài Thu (Chủ biên) – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014 [80], tác giả cho rằng về cơ bản các quyền con người trong lao động là những quyền liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động, bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội.
Và quyền con người trong lao động là một bộ phận của hệ thống các quyền con người nói chung thuộc phạm trù các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội. Điều này xuất phát từ QHLĐ, khi NLĐ luôn ở vị trí yếu thế hơn so với NSDLĐ, là người phải thực hiện các nghĩa vụ lao động nên thường phải đối mặt với các rủi ro dẫn đến quyền con người của họ rất dễ bị xâm phạm. Trong khi đó, NLĐ lại là lực lượng xã hội quan trọng, quyết định sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội của đất nước. Cũng trong nội dung cuốn sách này, tác giả đã phân tích và luận giải về hai thuật ngữ thường gặp, đó là “quyền con người trong lao động” và “quyền của người lao động”.
Theo đó, nếu phân tích kỹ thì hai thuật ngữ này có sự khác nhau nhất định. Bởi khi nói “quyền của con người trong lao động” tức là muốn nói quyền con người trong lĩnh vực lao động và các lĩnh vực khác như “chính trị”, “văn hóa”, “giáo dục”, “xã hội”. Còn khi nói “quyền của người lao động” là muốn phân biệt quyền NLĐ (có thể tham gia vào QHLĐ hoặc không) với quyền của con người nói chung. Chính vì vậy, hai thuật ngữ này có thể thay thế cho nhau, hoặc phân biệt với nhau là do chủ ý của người sử dụng chúng, miễn sao cho phù hợp với văn cảnh được đề cập đến [80, tr.
Những nghiên cứu về quyền của NLĐ trong các công trình khoa học nói trên đã gợi mở cho những nghiên cứu sâu hơn những vấn đề lý luận về quyền của NLĐ và bảo vệ quyền của NLĐ trong Hiệp định CPTPP mà tác giả luận án sẽ thực hiện. Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến quyền của NLĐ đối với những đối tượng cụ thể, trong một số vấn đề cụ thể mà chưa nghiên cứu chuyên sâu về quyền của NLĐ trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Hiệp định CPTPP như mục tiêu đặt ra của luận án này. Về khái niệm bảo vệ quyền của người lao động Cuốn sách “Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” của tác giả Nghiêm Kim Hoa và Vũ Công Giao (Đồng chủ biên), NXB Hồng Đức, năm 2012 [90]. Đây là công trình nghiên cứu khá đầy đủ và toàn diện về quyền con người theo Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR).
Cuốn sách này đã phân tích và làm rõ nội hàm các quyền, bảo vệ quyền của NLĐ được ghi nhận trong ICESCR. Trên cơ sở đó, đưa ra các bình luận, khuyến nghị chung về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội của UN, mô tả cơ chế giám sát việc thực thi ICESCR. Trong số các công trình ngoài nước phải kể đến nghiên cứu “Trade, Employment and Labour standards: A study of core worker’s Rights and Internatinonal Trade” (Thương mại, việc làm và các tiêu chuẩn lao động: Nghiên cứu các quyền cơ bản của người lao động và thương mại quốc tế) của OECD - Organization for Economic Cooperation and Development (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), năm 1996. Nghiên cứu đã phân tích một số nội dung về các tiêu chuẩn lao động trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ.
Nghiên cứu cũng đưa ra đánh giá một cách có hệ thống những vấn đề về thương mại, việc làm, các tiêu chuẩn lao động ở các cấp độ và phạm vi khác nhau. Đặc biệt, nhấn mạnh 10 đến những khái niệm và một số nguyên tắc cơ bản về quyền của NLĐ tại nơi làm việc như là quyền tự do hiệp hội; công nhận hiệu quả của quyền TLTT; loại bỏ các hình thức lao động cưỡng bức; xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ; loại bỏ các hình thức phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp của NLĐ. Luận án tiến sĩ “Pháp luật lao động với vấn đề bảo vệ người lao động trong điều kiện kinh tế thị trường” của Nguyễn Thị Kim Phụng, bảo vệ năm 2006. Luận án đã phân tích các vấn đề lý luận về bảo vệ NLĐ trong nền kinh tế thị trường; đưa ra những cách hiểu khác nhau, quan niệm khác nhau về bảo vệ NLĐ.
Tác giả cũng luận giải sự cần thiết của vấn đề bảo vệ NLĐ. Theo tác giả, khái niệm bảo vệ NLĐ là “việc bảo con người, đặc biệt bảo vệ người lao động không giới hạn trong phạm vi để được “tồn tại nguyên vẹn” mà phải tính tới mọi mặt đời sống, những nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội, điều kiện phát triển về vật chất và tinh thần, cũng như những giá trị nhân thân của họ.11] Do đó, có thể hiểu bảo vệ người lao động là phòng ngừa, chống lại sự xâm hại danh dự, nhân phẩm, thân thể, quyền và lợi ích của người lao động từ phía người sử dụng lao động trong quá trình lao động” [108, tr. Luận án tiến sĩ “Bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại nghiệp có vốn đầu tư ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành” của Trần Nguyên Cường, bảo vệ năm 2016 [125]. Luận án đã đưa ra khái niệm bảo vệ quyền của NLĐ trong QHLĐ, theo đó bảo vệ quyền của NLĐ được hiểu là một phương thức, một hình thức, một quy trình kết hợp hoạt động của các cơ quan, tổ chức lại với nhau để ngăn ngừa và đảm bảo NLĐ được hưởng đầy đủ các quyền của mình.
Luận án tiến sĩ “Quyền có việc làm của người lao động theo pháp luật lao động Việt Nam” của Trần Thị Tuyết Nhung, bảo vệ năm 2016. Luận án đã tiếp cận khái niệm bảo vệ quyền con người và quyền của NLĐ dưới góc độ quyền việc làm. Khi đề cập đến khái niệm quyền có việc làm của NLĐ, tác giả cho rằng: “Quyền có việc làm của người lao động là quyền được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm về việc làm, thu nhập, chế độ bảo hiểm xã hội và các chế độ khác khi người lao động tham gia quan hệ lao động theo quy định của pháp luật lao động” [128, tr. Tuy nhiên do mục đích nghiên cứu, luận án không làm rõ các lý thuyết về quyền con người, các lý thuyết về quyền làm việc, cũng như là lý thuyết về nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật về quyền có việc làm trong nội dung công trình nghiên cứu này.