Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, quyền tự do kinh doanh và tự do sản xuất được pháp luật ghi nhận, kéo theo quyền tự chủ quản lý và sử dụng lao động của các doanh nghiệp. Bộ luật Lao động năm 2012 đã mở rộng quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động (NSDLĐ) nhằm bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời cụ thể hóa chính sách của Nhà nước tại khoản 2 Điều 4: bảo đảm cho người sử dụng lao động "quyền và lợi ích hợp pháp, quản lý lao động đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội".

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy tình trạng người sử dụng lao động lạm quyền diễn ra khá phổ biến. Nhiều đơn vị sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử đối với người lao động (NLĐ) dựa trên vùng miền, giới tính, loại hình đào tạo; tùy tiện điều chuyển công việc, trừ lương hoặc sa thải trái luật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc làm và thu nhập của người lao động. Xuất phát từ thực tế này, tác giả Vũ Thị Bích Hồng đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Luật Kinh tế tại Viện Đại học Mở Hà Nội (tháng 6/2015) với đề tài: "Pháp luật về quản lý lao động của người sử dụng lao động", dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hiền Phương.

Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là phân tích toàn diện, bao quát và có hệ thống các vấn đề lý luận về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động; đối chiếu với quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành; từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng. Để đạt được mục đích trên, văn bản xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng hệ thống lý luận về quyền quản lý lao động và pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động (khái niệm, đặc điểm, cơ sở xác định và nội dung).
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp lý cùng thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền quản lý lao động theo Bộ luật Lao động năm 2012, chỉ ra các vướng mắc, tồn tại và bất cập.
  3. Đề xuất các yêu cầu, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động dưới góc độ khoa học pháp lý lao động. Về phạm vi nghiên cứu, tác giả giới hạn việc nghiên cứu quyền quản lý lao động trong phạm vi các doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn hiện hành, tập trung vào 5 nhóm quyền năng cụ thể: (1) Quyền tuyển chọn, bố trí, sắp xếp lao động; (2) Quyền ký kết thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động; (3) Quyền ban hành nội quy, quy chế, quyết định; (4) Quyền xử lý kỷ luật lao động; (5) Quyền chấm dứt sử dụng lao động.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý luận, khóa luận tiếp cận khái niệm "quản lý" theo Từ điển luật học với hai phương diện: sự điều khiển, phối hợp các hành vi riêng lẻ đạt hiệu quả cao nhất và sự gìn giữ, bảo quản tài sản. Trong quan hệ lao động, quản lý lao động được phân định ở hai cấp độ: cấp độ vĩ mô thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Nhà nước, và cấp độ vi mô trong đơn vị sử dụng lao động nơi Nhà nước trao quyền cho người sử dụng lao động thiết lập trật tự nội bộ. Quyền quản lý lao động được phân tích dưới hai góc độ pháp lý:

  • Góc độ quyền chủ thể: Là khả năng xử sự mà pháp luật cho phép người sử dụng lao động được tiến hành đối với người lao động (tự chủ tuyển dụng, bố trí, kiểm tra, khen thưởng, kỷ luật), mang tính quyền lực đơn phương nhưng có giới hạn pháp lý và chịu sự can thiệp của ý chí nhà nước nhằm bảo vệ bên yếu thế.
  • Góc độ chế định pháp luật: Là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm xác lập công cụ và điều chỉnh quá trình tổ chức, thực hiện quyền quản lý trong đơn vị.

Khóa luận xác định 3 cơ sở nền tảng làm căn cứ xác định quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động: (1) Yêu cầu khách quan của quá trình tổ chức lao động chung; (2) Quyền tài sản, quyền sở hữu và quản lý sản nghiệp của người đầu tư vốn; (3) Mục tiêu duy trì năng suất, chất lượng và lợi nhuận kinh doanh.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả sử dụng làm căn cứ phân tích bao gồm:

  • Bộ luật Lao động năm 2012 và Bộ luật Lao động năm 1994;
  • Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp, Luật Dạy nghề, Luật Đầu tư;
  • Luật Bình đẳng giới năm 2006 (Điều 13);
  • Luật Người khuyết tật năm 2010 (Điều 33);
  • Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006;
  • Các văn bản quy định chi tiết thi hành: Thông tư số 26/2013/TT-BLĐTBXH (danh mục 77 công việc không được sử dụng lao động nữ), Thông tư số 10/2013/TT-BLĐTBXH (công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên), Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH (danh mục công việc nhẹ cho lao động dưới 13 tuổi).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai trong khóa luận bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Sử dụng chủ yếu tại Chương 1 để phân tích các khái niệm, đặc điểm, cơ sở khoa học và tổng hợp thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh về quyền quản lý lao động.
  • Phương pháp chứng minh: Sử dụng xuyên suốt các chương nhằm đưa ra dẫn chứng từ các điều khoản pháp luật thực định, tài liệu báo cáo thực tế và các vụ việc điển hình để làm sáng tỏ các luận điểm.
  • Phương pháp tổng hợp: Áp dụng tại phần kết luận của từng chương và kết luận chung nhằm khái quát hóa các bất cập và định hướng giải pháp.

Nguồn dữ liệu thực tiễn được trích dẫn gồm Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI); số liệu thống kê về người khuyết tật (khoảng 5,3 triệu người, chiếm 6,34% dân số); quy chế nội bộ của các doanh nghiệp như Tổng công ty Xây dựng Thăng Long 4, Tổng công ty Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam (PVI); các sự việc thực tế về phân biệt đối xử lao động ngoại tỉnh (vụ việc tại Công ty TNHH gỗ Hoa Nét, việc hạn chế tuyển dụng lao động nam quê Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tại TP. Hồ Chí Minh và Bình Dương); cùng hồ sơ vụ án tranh chấp sa thải trái pháp luật giữa người lao động Nguyễn Văn Q và Công ty HHCN Broad Bright (trình bày tại Phụ lục 1).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý lao động và pháp luật về quản lý lao động của người sử dụng lao động

Chương 1 xây dựng khung lý thuyết nền tảng cho toàn bộ đề tài:

  • Khái niệm và đặc điểm: Phân tích địa vị pháp lý của người sử dụng lao động theo Điều 6 Bộ luật Lao động năm 2012. Tác giả chỉ rõ năng lực pháp luật và năng lực hành vi của người sử dụng lao động là tổ chức được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp chứ không tồn tại "hành vi doanh nghiệp". Quyền quản lý lao động mang ba đặc điểm chính: (1) Tính chất quyền lực đơn phương (có quyền tự quyết phương pháp quản lý nhưng không mang tính tuyệt đối); (2) Bị giới hạn nghiêm ngặt bởi quy định pháp luật (không được xâm phạm đời tư, quyền tự do dân sự của người lao động hoặc can thiệp ngoài quan hệ lao động); (3) Mang tính hành chính nhưng được áp dụng linh hoạt, mềm dẻo hơn quản lý nhà nước.
  • Cơ sở xác định quyền: Chứng minh quyền quản lý bắt nguồn từ tính chất khách quan của phân công lao động, từ quyền sở hữu và bảo toàn tư liệu sản xuất/vốn của chủ doanh nghiệp, và từ yêu cầu điều hòa xung đột lợi ích giữa người lao động (tối đa hóa thu nhập) và người sử dụng lao động (tối đa hóa lợi nhuận).
  • Pháp luật về quyền quản lý lao động: Khẳng định sự can thiệp của pháp luật nhằm thiết lập trật tự lao động xã hội và bảo đảm an toàn nguồn nhân lực quốc gia. Nội dung quyền quản lý lao động được phân tích gồm 5 cấu phần: tuyển chọn - sắp xếp lao động; ký kết thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động; ban hành nội quy, quy chế, mệnh lệnh điều hành; tổ chức, điều hành, kiểm tra, giám sát; xử lý vi phạm kỷ luật và chấm dứt sử dụng lao động.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động

Chương 2 đi sâu rà soát các quy định pháp luật thực định và đối chiếu với thực tiễn áp dụng qua 5 nhóm quyền cụ thể:

  • Quyền tuyển chọn, bố trí, sắp xếp lao động: Người sử dụng lao động có quyền tự quyết định số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn tuyển chọn lao động. Pháp luật quy định khung pháp lý cụ thể đối với các nhóm lao động đặc thù: lao động nước ngoài (Điều 169, 170 BLLĐ); lao động nữ (Điều 154 BLLĐ, Điều 13 Luật Bình đẳng giới năm 2006); lao động chưa thành niên (Điều 161–165 BLLĐ, Thông tư 10/2013/TT-BLĐTBXH, Thông tư 11/2013/TT-BLĐTBXH); lao động cao tuổi (Điều 166, 167 BLLĐ); lao động khuyết tật (Điều 176, 178 BLLĐ, Điều 33 Luật Người khuyết tật năm 2010); lao động cho thuê lại (Điều 56 BLLĐ); lao động giúp việc gia đình. Tác giả phát hiện các bất cập: thực trạng lạm quyền phân biệt đối xử ngầm theo hộ khẩu vùng miền (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Cà Mau); chính sách tuyển dụng người khuyết tật dừng lại ở mức khuyến khích nên chưa hiệu quả; Điều 45 BLLĐ ép buộc doanh nghiệp kế tiếp sau sáp nhập, hợp nhất, chia tách phải tiếp tục sử dụng toàn bộ lao động cũ là can thiệp quá sâu vào quyền tự do kinh doanh; quy định thời gian nghỉ thai sản 6 tháng cào bằng gây trở ngại tuyển dụng lao động nữ.
  • Ký thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động: Thỏa ước lao động tập thể (Điều 73 BLLĐ) xác lập cơ sở bình đẳng và có lợi hơn cho người lao động. Về hợp đồng lao động (Điều 15–25 BLLĐ), tác giả phân tích các quy định về hình thức, thời hạn (tối đa 2 lần ký xác định thời hạn không quá 72 tháng), 10 nội dung bắt buộc (Điều 23 BLLĐ) và các điều cấm (giữ giấy tờ gốc, văn bằng chứng chỉ, giữ tiền bảo đảm). Bất cập được chỉ ra: hiện tượng người sử dụng lao động "lách luật" bằng cách thanh lý rồi ký lại hợp đồng xác định thời hạn lần đầu, hoặc ký hợp đồng dưới 3 tháng để trốn đóng BHXH, BHYT; sự mâu thuẫn giữa quy định người đại diện ký hợp đồng cho lao động từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi (Điều 164 BLLĐ) với nguyên tắc tự thực hiện và tính đích danh của hợp đồng lao động (Điều 15, Điều 30 BLLĐ).
  • Ban hành nội quy, quy chế, quyết định: Phân tích quy định bắt buộc lập nội quy lao động bằng văn bản đối với cơ sở sử dụng từ 10 người lao động trở lên (Điều 119–122 BLLĐ) với 5 nội dung chính. Tác giả nêu bất cập lớn: số lượng doanh nghiệp nhỏ dưới 10 lao động tăng nhanh theo số liệu VCCI nhưng không bắt buộc có nội quy, dẫn đến việc người sử dụng lao động ban hành mệnh lệnh tùy tiện, phản cảm (như giới hạn đi vệ sinh 3 lần/ngày hoặc bắt đội mũ khi đi vệ sinh). Về quy chế và quyết định, tác giả dẫn chứng thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty Xây dựng Thăng Long 4 và PVI.
  • Quyền xử lý kỷ luật lao động: Rà soát căn cứ vi phạm, nguyên tắc xử lý (Điều 123 BLLĐ), các hành vi bị cấm như phạt tiền, cắt lương (Điều 128 BLLĐ), cấm xử lý kỷ luật vì lý do đình công (khoản 4 Điều 219 BLLĐ), ba hình thức kỷ luật (Điều 125 BLLĐ: khiển trách; kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng hoặc cách chức; sa thải), và thời hiệu xử lý (Điều 124 BLLĐ: 6 tháng thông thường, 12 tháng đối với vi phạm tài sản, bí mật công nghệ/kinh doanh; gia hạn không quá 60 ngày).
  • Quyền chấm dứt sử dụng lao động: Phân loại theo 3 nhóm lý do: (1) Do người lao động (khoản 1 Điều 38 BLLĐ); (2) Do người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế hoặc sáp nhập, giải thể (Điều 44, 45 BLLĐ - phải trả trợ cấp mất việc làm theo Điều 49 BLLĐ ít nhất 2 tháng lương); (3) Do lý do khách quan bất khả kháng (điểm c khoản 1 Điều 38 BLLĐ - trả trợ cấp thôi việc theo Điều 48 BLLĐ). Tác giả phân tích dẫn chứng vụ án sa thải trái pháp luật người lao động Nguyễn Văn Q tại Công ty HHCN Broad Bright do không có căn cứ trộm cắp tài sản. Bất cập nổi bật được chỉ ra là sự bất bình đẳng về nghĩa vụ bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật: người sử dụng lao động phải bồi thường ít nhất 2 tháng tiền lương (khoản 1 Điều 42 BLLĐ), trong khi người lao động chỉ phải bồi thường nửa tháng tiền lương (khoản 1 Điều 43 BLLĐ).

Chương 3: Một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động và nâng cao hiệu quả thực hiện quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động

Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Ba yêu cầu hoàn thiện pháp luật: (1) Khắc phục các điểm bất hợp lý, mở rộng quyền tự chủ quản lý của người sử dụng lao động; (2) Bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động; (3) Phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
  • Năm kiến nghị lập pháp cụ thể:
    1. Sửa đổi khái niệm hợp đồng lao động: Bổ sung yếu tố chịu sự quản lý lao động: "Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ, trong đó NLĐ thực hiện việc làm được trả lương và chịu sự QLLĐ của NSDLĐ", đồng thời mở rộng phạm vi thỏa thuận của các bên.
    2. Bổ sung điều luật nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử vùng miền và loại hình đào tạo: Đưa vào diện cấm triệt để việc từ chối tuyển dụng dựa trên hộ khẩu địa phương (đặc biệt khu vực Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) hoặc cơ sở đào tạo (dân lập, vừa học vừa làm, từ xa).
    3. Sửa đổi quy định giao kết hợp đồng với lao động từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi: Cho phép người lao động từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi trực tiếp ký kết hợp đồng bằng văn bản khi có văn bản cam kết đồng ý của người đại diện theo pháp luật, nhằm tôn trọng tính đích danh và tính tự chịu trách nhiệm của người lao động.
    4. Điều chỉnh linh hoạt thời gian nghỉ thai sản: Bãi bỏ quy định cào bằng 6 tháng trong mọi trường hợp; quay trở lại cơ chế phân loại thời gian nghỉ từ 4, 5 đến 6 tháng tùy thuộc vào điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại và mức độ suy giảm khả năng lao động như quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, nhằm giảm áp lực và định kiến tuyển dụng đối với lao động nữ.
    5. Rút ngắn điều kiện thời gian tự ý bỏ việc để xử lý sa thải: Quy định người lao động tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng 3 ngày cộng dồn trong 1 tháng hoặc 10 ngày cộng dồn trong 1 năm là đủ căn cứ áp dụng hình thức kỷ luật sa thải, nhằm siết chặt kỷ cương lao động và bảo vệ tài sản doanh nghiệp.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng: Nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ lao động; đổi mới và tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động thông qua các khóa tập huấn chuyên sâu, tư vấn pháp lý tại chỗ và phương tiện truyền thông, khắc phục tình trạng chỉ phổ biến khi luật mới được ban hành.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp, so sánh và chỉ rõ sự mất cân đối về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý giữa hai chủ thể trong quan hệ lao động theo Bộ luật Lao động năm 2012 qua các chế định quản lý:

Chế định pháp lý Quy định đối với Người sử dụng lao động Quy định đối với Người lao động Đánh giá bất cập / Đóng góp của đề tài
Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn Bắt buộc phải có lý do theo luật định (Điều 38 BLLĐ) và tuân thủ thời hạn báo trước. Có quyền chấm dứt bất kỳ lúc nào, không cần lý do, chỉ cần báo trước 45 ngày. Thiếu bình đẳng, gây xáo trộn tiến độ sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động.
Nghĩa vụ bồi thường khi chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật Phải trả trợ cấp thôi việc, nhận lại NLĐ, bồi thường tiền lương những ngày không làm việc cộng thêm ít nhất 02 tháng tiền lương (khoản 1 Điều 42 BLLĐ). Phải bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và chi phí đào tạo nếu có (khoản 1 Điều 43 BLLĐ). Mức bồi thường của NSDLĐ cao gấp 4 lần NLĐ; chưa đánh giá đúng thiệt hại uy tín, tiến độ hợp đồng của doanh nghiệp.
Nghĩa vụ trợ cấp khi chấm dứt sử dụng lao động Trả trợ cấp mất việc làm (1 tháng lương/năm làm việc, tối thiểu 2 tháng lương - Điều 49 BLLĐ) hoặc trợ cấp thôi việc (0,5 tháng lương/năm làm việc - Điều 48 BLLĐ). Nhận tiền trợ cấp và các quyền lợi bảo hiểm liên quan. Gia tăng gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp khi phải tái cơ cấu công nghệ hoặc gặp lý do kinh tế.
Trách nhiệm khi chia, tách, sáp nhập doanh nghiệp NSDLĐ kế tiếp phải tiếp tục sử dụng toàn bộ lao động hiện có và sửa đổi HĐLĐ (Điều 45 BLLĐ). Được bảo đảm duy trì quan hệ lao động hoặc hưởng trợ cấp mất việc làm. Tước bỏ quyền tự quyết định nhân sự và tự do kinh doanh của doanh nghiệp nhận sáp nhập.
Giao kết hợp đồng lao động cho người từ 13 đến dưới 15 tuổi Phải ký văn bản với người đại diện theo pháp luật và được sự đồng ý của trẻ (Điều 164 BLLĐ). Không trực tiếp đứng tên ký hợp đồng lao động. Mâu thuẫn với tính đích danh của hợp đồng lao động và trách nhiệm cá nhân theo Điều 15 và Điều 30 BLLĐ.
Kỷ luật sa thải do tự ý bỏ việc Bị ràng buộc thời hiệu nghiêm ngặt và thủ tục chứng minh phức tạp. Bị sa thải nếu bỏ việc không lý do chính đáng 05 ngày cộng dồn/tháng hoặc 20 ngày cộng dồn/năm (Điều 126 BLLĐ). Tác giả kiến nghị rút ngắn xuống 03 ngày cộng dồn/tháng hoặc 10 ngày cộng dồn/năm để bảo đảm tính răn đe.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc tác giả tự chỉ ra các "khoảng trống" và điểm nghẽn pháp lý mà Bộ luật Lao động năm 2012 chưa giải quyết thỏa đáng: tình trạng phân biệt đối xử ngầm theo địa phương (Thanh-Nghệ-Tĩnh, Cà Mau); quy định quản lý kỷ luật tại các doanh nghiệp quy mô nhỏ dưới 10 lao động; hiện tượng trốn tránh nghĩa vụ bảo hiểm thông qua việc chia nhỏ hợp đồng ngắn hạn dưới 3 tháng; và gánh nặng chi phí của doanh nghiệp trước các chính sách thai sản cào bằng 6 tháng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, tác giả thẳng thắn thừa nhận trong phần phạm vi nghiên cứu: do trình độ và nguồn lực nghiên cứu còn giới hạn, đề tài chỉ tập trung khảo sát quyền quản lý lao động trong phạm vi các doanh nghiệp kinh tế, chưa mở rộng ra các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập hay các tổ chức xã hội. Đề tài chủ yếu phân tích thuần túy dưới góc độ luật học thực định, thiếu vắng các khảo sát điều tra xã hội học quy mô lớn với mẫu khảo sát định lượng cụ thể. Các dẫn chứng thực tế về tranh chấp lao động mới dừng lại ở một số vụ việc và vụ án đơn lẻ (như vụ án tại Phụ lục 1) mà chưa tổng kết được số liệu xét xử tranh chấp lao động trên bình diện toàn quốc.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ giới hạn của khóa luận bao gồm:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu quyền quản lý lao động trong khu vực hành chính công và các đơn vị sự nghiệp;
  • Nghiên cứu thực nghiệm thông qua điều tra bảng hỏi về tác động của các quy định quản lý lao động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp;
  • Đánh giá sự tương thích của pháp luật quản lý lao động Việt Nam với các cam kết quốc tế về lao động (các công ước cơ bản của ILO) trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đang được đàm phán và phê chuẩn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Quản trị nhân lực: Cung cấp khung lý luận chi tiết về quyền quản lý lao động, kỹ thuật phân tích các điều khoản của Bộ luật Lao động năm 2012, phương pháp tiếp cận các chế định hợp đồng, nội quy và kỷ luật lao động.
  • Chuyên viên pháp chế, cán bộ quản lý nhân sự tại các doanh nghiệp: Tham khảo trực tiếp nội dung phân tích Chương 2 về trình tự, thủ tục ban hành nội quy lao động bằng văn bản, các hành vi cấm khi xử lý kỷ luật lao động, căn cứ xác lập quyết định sa thải đúng pháp luật nhằm phòng tránh rủi ro bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật.
  • Tổ chức công đoàn cơ sở: Nắm vững các quy định về thương lượng tập thể, ký kết thỏa ước lao động tập thể và giám sát việc thực hiện quyền quản lý của người sử dụng lao động để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.

Câu hỏi thường gặp

1. Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động được khóa luận phân tích dưới những khía cạnh lý luận nào?
Khóa luận tiếp cận quyền quản lý lao động dưới hai góc độ: (1) Góc độ quyền chủ thể: là khả năng xử sự thực tế mà pháp luật cho phép người sử dụng lao động thực hiện (tuyển chọn, sắp xếp, ban hành mệnh lệnh, kiểm tra, kỷ luật) nhằm vận hành tổ chức, mang tính quyền lực đơn phương nhưng chịu sự giới hạn của pháp luật; (2) Góc độ chế định pháp luật: là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm xác lập công cụ và điều chỉnh các hành vi tổ chức, quản lý lao động trong đơn vị.

2. Khóa luận chỉ ra mâu thuẫn pháp lý nào trong quy định ký hợp đồng lao động đối với người từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi?
Khoản 2 và khoản 3 Điều 164 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định người sử dụng lao động phải ký hợp đồng lao động bằng văn bản với người đại diện theo pháp luật của lao động dưới 15 tuổi (với sự đồng ý của người này). Tác giả chỉ rõ quy định này mâu thuẫn trực tiếp với khái niệm hợp đồng lao động tại Điều 15 và nghĩa vụ thực hiện công việc tại Điều 30 BLLĐ: hợp đồng lao động có đặc tính đích danh, công việc phải do chính người lao động thực hiện; nếu hợp đồng không do chính người lao động ký tên thì thiếu giá trị pháp lý ràng buộc trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ lao động của chính họ.

3. Vì sao tác giả cho rằng quy định thời gian nghỉ sinh con 6 tháng cào bằng đối với lao động nữ là điểm bất cập?
Theo phân tích của tác giả, quy định thời gian nghỉ thai sản 6 tháng bắt buộc trong mọi trường hợp (không phân biệt điều kiện lao động và sức khỏe) gây khó khăn lớn cho người sử dụng lao động trong việc tìm người thay thế tạm thời và bố trí công việc sau thai sản. Quy định này tạo ra tâm lý e ngại tuyển dụng lao động nữ, từ đó vô hình trung thu hẹp cơ hội việc làm, thăng tiến và thu nhập của lao động nữ, đi ngược lại mục tiêu thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng. Tác giả kiến nghị áp dụng lại cơ chế thời gian nghỉ 4, 5 hoặc 6 tháng linh hoạt theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006.

4. Bất cập trong quy định về nội quy lao động áp dụng cho doanh nghiệp dưới 10 người lao động là gì?
Điều 119 Bộ luật Lao động năm 2012 chỉ bắt buộc ban hành nội quy lao động bằng văn bản đối với doanh nghiệp có từ 10 người lao động trở lên. Dựa trên số liệu từ Báo cáo VCCI cho thấy số lượng doanh nghiệp nhỏ dưới 10 lao động tăng nhanh, tác giả chỉ ra rằng việc miễn trừ nội quy văn bản khiến kỷ luật lao động tại các cơ sở này hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ sử dụng lao động, dẫn đến tình trạng áp đặt các quy định khắt khe, xâm phạm quyền lợi người lao động (như phạt tiền, giới hạn số lần đi vệ sinh) mà thiếu cơ chế kiểm soát của cơ quan quản lý.

5. Vụ việc Nguyễn Văn Q và Công ty HHCN Broad Bright được dẫn chứng nhằm chứng minh cho luận điểm nào?
Vụ việc tại Phụ lục 1 được tác giả trích dẫn nhằm chứng minh cho thực trạng người sử dụng lao động thường xuyên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc áp dụng hình thức kỷ luật sa thải trái pháp luật do thiếu căn cứ xác thực. Công ty Broad Bright sa thải anh Q với lý do trộm cắp, phá hoại tài sản nhưng không lập được biên bản vi phạm và không có chứng cứ hợp pháp, dẫn đến phán quyết của Tòa án tuyên bố quyết định sa thải vô hiệu, buộc công ty nhận người lao động trở lại và bồi thường tiền lương.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Vũ Thị Bích Hồng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá sâu sắc thực trạng pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2012. Công trình làm nổi bật mối quan hệ biện chứng giữa bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động trước sự lạm quyền trong tuyển dụng, quản lý và kỷ luật. Các kiến nghị lập pháp cụ thể về định nghĩa hợp đồng, chống phân biệt đối xử vùng miền, điều chỉnh chế độ thai sản và quy định sa thải thể hiện giá trị đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế pháp luật lao động tại Việt Nam.