Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 1.Một số khái niệm liên quan 1.Khái niệm về NSDLĐ NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động (HĐLĐ); nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (Khoản 2 Điều 3 BLLĐ năm 2012). Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ là nguyên tắc được ghi nhận xuyên suốt trong BLLĐ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời còn được nhắc đến trong các văn kiện của Đảng và Hiến pháp 2013. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ, quản lý lao động đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội. Bảo vệ NSDLĐ còn được ghi nhận ở các vấn đề của BLLĐ năm 2012 từ khi xác lập, thực hiện cho đến chấm dứt QHLĐ mà không được kết cấu riêng thành chương, điều, khoản.
Khái niệm và đặc điểm của pháp luật lao động bảo vệ NSDLĐ 1. Khái niệm “Pháp luật lao động (PLLĐ) về bảo vệ NSDLĐ được hiểu là hệ thống các quy định nhằm sự ngăn chặn mọi sự xâm hại có thể xảy ra đối với NSDLĐ khi tham gia QHLĐ. Với vai trò đó “bảo vệ NSDLĐ” cũng đang dần được tiếp cận dưới góc độ là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng của luật pháp về lao động” (Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật lao động Việt Nam (tái bản lần thứ năm), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội) PLLĐ về bảo vệ NSDLĐ chính là bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong QHLĐ và nó có vai trò quan trọng trong QHLĐ, khi chúng ta bảo vệ NLĐ thì cũng cần thiết phải có những chế tài để bảo vệ NSDLĐ trong QHLĐ bởi những lý do sau đây: 9 Thứ nhất, trong quan hệ pháp luật, các chủ thể đều phải chịu sự điều chỉnh chung của pháp luật do vậy NSDLĐ cũng cần được bảo đảm những quyền và lợi ích hợp pháp của mình; Thứ hai, NSDLĐ là một bên không thể thiếu để hình thành và duy trì QHLĐ, khi không đạt được lợi ích trong quá trình sử dụng lao động thì họ sẽ không thể tiếp tục đầu tư sản xuất kinh doanh, không giải quyết việc làm cho người lao động (NLĐ) và ngưng trệ sự phát triển kinh tế đất nước. Vì vậy, bảo vệ NSDLĐ sẽ dẫn đến QHLĐ có thể phát triển bền vững, NLĐ mới có điều kiện ổn định việc làm, đảm bảo cuộc sống; Thứ ba, xuất phát từ xu thế chung trong quy định PLLĐ của các nước trên thế giới.
Thay vì chỉ cố gắng bảo vệ NLĐ với quan niệm bên yếu thế trong QHLĐ, các nước đã thay đổi và cân bằng lợi ích giữa hai chủ thể này; Thứ tư, có sự tổ chức, quản lý và điều hành của NSDLĐ sẽ tạo ra môi trường lao động trình độ cao, có tính kỷ luật. NLĐ sẽ làm việc với cường độ hợp lý để tạo ra của cải vật chất. Khi đó lợi ích của NSDLĐ cũng được tăng lên và họ sẽ có điều kiện trả lương cho NLĐ cao hơn, bảo đảm cho NLĐ làm việc trong điều kiện tốt hơn. Tuy nhiên, trên thực tế, dường như mọi thứ lại đi ngược với nguyên tắc đựơc ghi nhận trong Hiến pháp hay chính sách được đề cập tại BLLĐ đó là bảo vệ quá nhiều quyền lợi cho NLĐ nhưng lại quên mất quyền lợi cho NSDLĐ, vốn là nguồn tạo công ăn, việc làm cho người lao động và thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển, dẫn đến sự mất cân bằng trong mối QHLĐ.
Trên thế giới, chúng ta thấy tồn tại cơ bản 03 quan điểm khác nhau về mối QHLĐ này: - Quan điểm 1: Ưu tiên bảo vệ giới chủ (tức là NSDLĐ) – áp dụng dụng đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. - Quan điểm 2: Cân bằng lợi ích giữa NSDLĐ và NLĐ – áp dụng đối với các nước kinh tế thị trường theo hướng dân chủ. 10 - Quan điểm 3: Ưu tiên bảo vệ NLĐ – áp dụng đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển, chẳng hạn như Việt Nam. “Việt Nam đang trong giai đoạn đang phát triển, do vậy, việc ưu tiên bảo vệ NLĐ là điều tất yếu, thế nhưng, khi nền kinh tế phát triển và có chiều hướng đi lên, thì liệu rằng việc chỉ ưu tiên bảo vệ quyền lợi của NLĐ có còn phù hợp không? Hay là cần phải thay đổi để tiến tới sự công bằng trong mối quan hệ nêu trên, như những gì mà trong Hiến pháp ghi nhận?” (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Hội thảo về góp ý sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động) Bởi trên thực tế, nếu không bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ thì: - Họ sẽ không đạt được lợi ích trong quá trình sử dụng lao động, từ đó không thể tiếp tục đầu tư sản xuất kinh doanh và không giải quyết việc làm cho người lao động, dẫn đến ngưng trệ sự phát triển kinh tế đất nước - Đi ngược lại xu thế chung trong quy định PLLĐ của các nước trên thế giới.
- Sẽ không tạo môi trường lao động có trình độ cao và có tính kỷ luật. - Không có điều kiện trả lương cho NLĐ cao hơn và bảo đảm cho họ được làm việc trong điều kiện tốt hơn. Do vậy, việc ban hành các quy định về bảo vệ quyền lợi NSDLĐ là cần thiết đặc biệt là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và đa dạng như hiện nay. Đặc điểm của PLLĐ về bảo vệ NSDLĐ “Ở nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển trên cơ sở của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp mà ở đó trong một thời kỳ dài các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, QHLĐ được điều chỉnh bằng phương pháp mệnh lệnh – phục tùng.
Do vậy, vấn đề việc làm, tiền lương, phúc lợi… đều được Nhà nước bao cấp toàn bộ. Bởi vậy, trong thời kỳ đó quan niệm coi lao động là một giá trị xã hội và tinh thần cao nhất, phi thị trường, thoát ra ngoài sự trao đổi về vật chất. Tuy nhiên, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12/1986, đất nước chính thức chấm dứt thời kỳ bao cấp với đầy rẫy những khó khăn, chuyển mình sang thời kỳ đổi mới, lao động cũng không thể nằm bên ngoài các quan hệ thị trường. Hơn nữa, mô hình kinh tế thị trường ở nước ta là nền kinh tế thị trường định 11 hướng xã hội chủ nghĩa.
Tất cả những điều đó tạo ra những nét đặc trưng của QHLĐ ở Việt Nam” (Giáo trình Quản trị nhân lực (tập I, II) của Trường Đại học Lao động - Xã hội năm 2009).Với khái niệm này thì có thể thấy, pháp luật bảo vệ NSDLĐ trong QHLĐ có những đặc điểm sau: Thứ nhất, chủ thể của QHLĐ là NLĐ và NSDLĐ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 BLLĐ năm 2012 thì NLĐ là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo HĐLĐ, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Tại khoản 2 Điều 3 BLLĐ năm 2012 quy định: NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Thứ hai, NSDLĐ có quyền tổ chức, quản lý quá trình lao động và NLĐ phải tuân thủ.
Bởi NSDLĐ là người có quyền sở hữu tài sản, NSDLĐ bỏ tiền ra để mua sức lao động của NLĐ, muốn việc sử dụng sức lao động đạt hiệu quả thì NSDLĐ phải quản lý nó một cách khoa học và hợp lý. Về mặt lợi ích kinh tế, giữa NSDLĐ và NLĐ vừa có sự mâu thuẫn, vừa có sự thống nhất phụ thuộc lẫn nhau. NSDLĐ luôn muốn giảm tối đa chi phí trong đó có vấn đề tiền lương của NLĐ để tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, tiền lương và thu nhập trong QHLĐ lại là nguồn sống chủ yếu của NLĐ.
Trong lĩnh vực lao động, hoạt động áp dụng pháp luật có thể được tiến hành trong các trường hợp như: tuyển dụng lao động, quyết định mức lương, tăng lương cho NLĐ, xử lý kỷ luật NLĐ, khen thưởng…, công tác thanh tra và xử phạt hành vi vi phạm PLLĐ; giải quyết tranh chấp lao động. Ý nghĩa quy định pháp luật về bảo vệ NSDLĐ Cần phải có những quy định pháp luật về bảo vệ NSDLĐ để tạo ra mối quan hệ hài hòa, cùng có lợi giữa các bên trong QHLĐ đồng thời góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận cơ bản về pháp luật bảo vệ NSDLĐ và cần thiết đối với 12 NSDLĐ trong việc nâng cao kiến thức pháp luật nhằm hiểu đúng, hiểu hết quyền của mình, từ đó thực hiện quyền trong đơn vị sử dụng lao động đúng, linh hoạt và hiệu quả, tránh trường hợp hiểu không đúng và hoặc lạm quyền làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của chính mình, của NLĐ cũng như lợi ích chung của xã hội. Luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho cho các cơ sở nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập về PLLĐ; cho NLĐ và đối tượng khác có mong muốn tìm hiểu về PLLĐ nói chung, pháp luật về bảo vệ NSDLĐ nói riêng. Pháp luật bảo vệ NSDLĐ có vai trò tạo cơ sở pháp lý cho NSDLĐ thực hiện quyền hợp pháp của mình, nó được hiểu là việc pháp luật xác định những hành vi mà NSDLĐ được phép làm để đạt được lợi ích của mình hoặc cần phải tránh để không xâm phạm đến quyền và lợi ích của NLĐ hoặc lợi ích của chủ thể khác.
Cụ thể ở các khía cạnh: Thứ nhất, xác định và bảo vệ những hoạt động mà NSDLĐ được phép thực hiện trong QHLĐ. Mục đích của việc này nhằm bảo đảm quyền tự chủ của NSDLĐ trong quá trình sử dụng lao động để đạt được lợi ích, lợi nhuận cao nhất. Qua đó, pháp luật quy định các nghĩa vụ, trách nhiệm của NLĐ, các chủ thể khác phải tuân theo các quyền này của NSDLĐ. Bởi, quyền của NSDLĐ sẽ không thực hiện được nếu như không có sự tuân theo của NLĐ.