Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Cho đến nay, đã có nhi ều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được công bố liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án. Các công trình đã đ ạt được những kết quả đáng kể, là cơ sở cho hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Có thể chia các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án theo ba hướng chính sau: 1. Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động nói chung Các công trình nghiên cứu theo hướng này thường tiếp cận vấn đề CCLĐ, chuyển dịch CCLĐ chủ yếu ở nông thôn vùng ĐBSH và một số tỉnh trong quá trình CNH, HĐH.
Dựa trên cơ sở khảo sát, phân tích thực trạng chuyển dịch CCLĐ ở địa phương, các tác giả của các nghiên cứu này đã đ ề xuất một số giải pháp nhằm tạo việc làm và sử dụng hợp lý nguồn lao động đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH. Tác giả Lê Doãn Khải (2001) đã đưa ra các khái niệm và nội dung của CCLĐ trong nông nghiệp, nông thôn; các nội dung về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; các nhân tố và chỉ tiêu đánh giá quá trình chuyển dịch CCLĐ theo hướng CNH, HĐH trong nông nghiệp, nông thôn nước ta. Tác giả phân tích thực trạng chuyển dịch CCLĐ theo hướng CNH, HĐH trong nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ và nguyên nhân của thực trạng này [32]. Đây là nghiên cứu khá đầy đủ, toàn diện về thực trạng chuyển dịch CCLĐ trong vùng, tuy nhiên tác giả cũng chưa chỉ ra được hiệu quả của quá trình chuyển dịch CCLĐ này đã làm thay đổi chất lượng của nguồn lao động trong vùng như thế nào, NSLĐ và thu nhập của người lao động trong vùng tăng lên ra sao?.
Các tác giả Võ Xuân Tiến - Đào Hữu Hòa (2003) phân tích thực trạng CCLĐ của thành phố Đà Nẵng những năm gần đây thông qua các chỉ tiêu về CCLĐ theo ngành, CCLĐ theo trình đ ộ học vấn, CCLĐ theo thành phần kinh tế, CCLĐ theo 6 khu vực thành thị, nông thôn [59, tr. Tác giả cho rằng đẩy mạnh phát triển các KCN là giải pháp hàng đầu để chuyển dịch CCLĐ. Tiếp đó là, chuyển dịch lao động trong ngành nông nghiệp, nâng cao chất lượng lao động ngành TM - DV, Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, tăng cường công tác đào tạo nghề… Tuy nhiên, tác giả lại không đề cập đến việc đẩy mạnh chuyển dịch CCLĐ phải gắn với công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH của thành phố, phát triển các nguồn lực đầu vào và các loại thị trường… E. Wayne Nafziger (1998) đã có những phần nghiên cứu rất quan trọng liên quan đến chuyển dịch CCLĐ và GQVL trong chuyển dịch CCLĐ nông nghiệp, nông thôn như: Sự nghèo đói ở nông thôn và chuyển đổi nông nghiệp; tài nguyên thiên nhiên, đất đai và khí hậu; Dân số và sự phát triển; Việc làm, di cư và ĐTH; Phát triển nguồn nhân lực.
Những nghiên cứu này không những chỉ ra các vấn đề mang tính quy luật của các vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án mà có một số nội dung gợi mở những giải pháp giải quyết những vấn đề liên quan đến lao động nông thôn, phát triển nguồn nhân lực. Torado (1998) đã giới thiệu kết quả nghiên cứu về những nguyên tắc, vấn đề và chính sách phát triển. Cuốn sách dành thời lượng đáng kể cho vấn đề nông nghiệp, nông thôn, về lao động và ảnh hưởng của nó đến phát triển KT - XH, những vấn đề về dân số, nghèo đói và tấn công vào nghèo đói và bất công; Di cư từ nông thôn ra thành thị; Nông nghiệp trì trệ và các cơ cấu ruộng đất; Nông nghiệp tự cung tự cấp và sự phát triển nông thôn. Những vấn đề trên có thể tạo lập những cơ sở lý thuyết cơ bản cho vấn đề lao động và chuyển dịch CCLĐ nông thôn của nhiều nước trong đó có nước ta.
Adam Smith (1993), cuốn sách kinh điển lớn đầu tiên về lý thuyết kinh tế của nhà kinh tế học cũng đã có nhi ều quan tâm đến vấn đề lao động khi ông giành thời lượng khá nhiều của cuốn sách cho vấn đề phân công lao động; nguyên tắc chi phối việc phân công lao động, mức độ phân công lao động bị hạn chế bởi quy mô của thị trường; tiền công lao động; tiền công và lợi nhuận trong cách sử dụng lao động và vốn… Điều hết sức quan trọng là trong nghiên cứu của mình khi tìm nguồn gốc tạo ra của cải của các dân tộc, ông đã nhấn mạnh vai trò của sự phân công lao động và cho 7 rằng người ta chỉ trao đổi hàng hóa khi nhận thức được "chuyên môn hóa có lợi cho tất cả các bên". Ông đã chứng minh kết quả của việc phân công lao động bằng một thí dụ mà chính ông đã biết. Ông nhận thức rằng, sự phân công lao động không những làm cho công việc của con người dễ chịu hơn, họ làm được nhiều sản phẩm hơn mà nó còn tăng cường những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội [83, tr. Những vấn đề cơ bản trên là nền tảng lý luận về chuyển dịch CCLĐ, coi đó như là tất yếu nếu muốn sản xuất phát triển, tạo thêm của cải cho các dân tộc.
Đây là cơ sở quan trọng cho sự nghiên cứu về phân công lao động và tác động của nó đến nền kinh tế. Carty (1999) cho rằng để thị trường lao động của Việt Nam hoạt động tốt hơn, cần bỏ các quy định về lao động và thị trường lao động đã lỗi thời trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung như việc kiểm soát về nhà ở, hộ khẩu và hạn chế di chuyển tới nơi mới để tìm cơ hội việc làm và thu nhập. Mặc dầu sau Đổi mới, cùng với sự chuyển đổi CCKT là sự giảm dần về phân mảng trong TTLĐ, việc di chuyển lao động nông thôn-thành thị diễn ra mạnh nhưng vẫn còn nhiều rào cản để cho TTLĐ của Việt Nam hoạt động hiệu quả. Cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước tuy tạo ra một tỷ lệ thất nghiệp nhưng bù lại khu vực tư nhân được khuyến khích phát triển sẽ tạo ra nhiều chỗ làm việc hơn cho người lao động.
Tuy nhiên, người lao động lại không di chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác được do khó khăn trong việc chuyển bảo hiểm và các quyền lợi khác [6, tr. Nolwen Henaff (2001) đã khảo sát ở một số địa phương tại Việt Nam và rút ra kết luận: những vùng có điều kiện tiếp cận tốt hơn với thị trường, phát triển mạnh giao lưu, buôn bán thì ngư ời dân có điều kiện tốt hơn trong tiếp cận nhu cầu việc làm, thu nhập và chuyển dịch CCLĐ. Tự do hóa kinh tế đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm, thu nhập và chuyển dịch lao động. cho người dân nói chung và người dân nông thôn nói riêng [90].
Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006) đã sử dụng phương pháp phân tích định lượng kết hợp với các mô tả định tính nhằm làm rõ các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu LĐNN, nông thôn. Hai nhóm yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu LĐNN, nông thôn được tác giả chỉ ra là: (i) nhóm yếu tố đẩy bao gồm những hạn chế về nguồn lực trong phát triển sản xuất nông nghiệp ví dụ như đất 8 nông nghiệp hạn hẹp, nhu cầu tiêu dùng bằng tiền mặt của hộ gia đình cao, r ủi ro trong sản xuất nông nghiêp; và (ii) nhóm các yếu tố kéo là những tác động tích cực của các chính sách tạo việc làm, khuyến khích phát triển hoạt động phi nông nghiệp, sự hấp dẫn của thu nhập phi nông nghiệp cũng như s ự cải thiện về khả năng chuyển đổi nghề nghiệp của người dân thông qua cải thiện trình độ văn hóa, việc hình thành và phát triển của các doanh nghiệp nông thôn. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn phát triển của CNH, HĐH thì tác động của nhóm yếu tố kéo và đẩy cũng khác nhau [3]. Nguyễn Thị Lan Hương (2007) đã khái quát hiện trạng chuyển dịch CCLĐ thời kỳ 1996-2005 trên các mặt: dân số và LLLĐ nông thôn; việc làm ở nông thôn, đặc điểm việc làm ở nông thôn… Từ đó, tác giả đánh giá về chất lượng lao động nông thôn thông qua trình độ học vấn và trình độ CMKT của lao động nông thôn thời kỳ này.
Tác giả đã chỉ ra rằng, CCLĐ nông thôn theo trình đ ộ CMKT của Việt Nam hiện nay chưa hợp lý và còn quá thiếu ở các ngành đào tạo có trình độ cao. Đồng thời cũng chỉ ra thực trạng chuyển dịch CCLĐ nông thôn theo 3 nhóm ngành chính, và lý giải tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm ở nông thôn từ 1996-2005. Dự báo chuyển dịch CCLĐ nông thôn từ 2006-2015 thông qua dự báo dân số nông thôn, dự báo cung lao động và xu hướng chuyển dịch cơ cấu việc làm nông thôn (chuyển dịch CCLĐ nông thôn theo ngành kinh tế, theo loại hình công việc, chuyển dịch cơ cấu trình đ ộ học vấn, trình độ CMKT của lao động nông thôn) [25, tr. Đây là công trình nghiên cứu dày công với nhiều bảng số liệu phong phú, rất có ý nghĩa và làm ti ền đề cho việc nghiên cứu chuyển dịch CCLĐ theo ngành ở các địa phương cũng như c ả nước.TS Lê Xuân Bá (2008) cho rằng TTKT và tăng trưởng việc làm không phải lúc nào cũng cùng chung một tốc độ, quan trọng hơn, việc làm và thu nhập từ việc làm đó thường là mối quan tâm đầu tiên của người dân.
Những thách thức về việc làm nói chung và chuyển đổi CCLĐ nông thôn - thành thị nói riêng thường có thể thấy rõ hơn ở cấp tỉnh, nơi gặp nhiều khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển KT - XH địa phương như: Các chiến lược phát triển KT - XH và những thách thức của việc thúc đẩy việc làm ở cấp tỉnh; Hoạt động của TTLĐ địa phương và chuyển dịch cơ cấu việc làm giữa nông thôn và thành thị ở cấp tỉnh. Từ đó, tác giả đã đưa ra các khuyến nghị chính sách: Thúc đẩy các hoạt động phi nông 9 nghiệp; Phát triển cơ sở hạ tầng; Phát triển doanh nghiệp trên cơ sở phát triển sản xuất và tự tạo việc làm [5, tr. Đây là những nghiên cứu bước đầu để tác giả tiếp tục nghiên cứu, dự báo chuyển dịch cơ cấu LĐNN, nông thôn và các giải pháp GQVL trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và ĐTH ở Việt Nam.