CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VE PHAT TRIEN CHO VAY TIÊU DÙNG THẺ CHÁP BÁT ĐỘNG SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại 1. Khát niệm cho vay tiêu dùng Theo khoản 12 điều 4 của luật Tổ chức tín dụng 2010: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dung; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.” Trong đó, Cấp tín dụng được định nghĩa là “việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khẩu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. ” Định nghĩa trên cho thấy, cho vay năm trong các nghiệp vụ của cấp tín dụng.
Vậy thế nào là cho vay? Theo khoản 15 điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng 2010: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền dé sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Thật vậy, cho vay được định nghĩa là việc NH cấp một khoản tiền cho khách hàng dựa trên sự thỏa thuận giữa hai bên với sự cam kết của KH là sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi trong một khoảng thời gian đã thỏa thuận trước. Đây là khoản mục đem lại mức lợi nhuận không nhỏ trong tổng số lợi nhuận của NH và được xem là một hoạt động chủ đạo. Trong cho vay thì cho vay tiêu dùng là một khoản mục chiếm tỷ trọng khá lớn.
Bởi đây là sản phẩm tín dụng với mục đích đáp ứng nhu chỉ tiêu trong đời sông sinh hoạt ( như nhu cầu nhà cửa, thiết bị gia đình, nhu cầu về phương tiện đi lại, nhu cầu giáo dục, sức khỏe, du lịch, du học.) của đối tượng khách hàng là các cá nhân nhằm giúp họ thỏa mãn nhu cầu chỉ tiêu và phục vụ trong cuộc sống. Qua đây, CVTD có thể được hiểu rằng: Cho vay tiêu dùng là một hình thức cấp tín dụng, mà ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng là cá nhân một khoản tiền dé sử dụng với mục đích chi tiêu và khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian xác định. Trong xu thê nên kinh tê phát triên, đời sông nâng cao thì nhu câu của các cá nhân ngày càng lớn, CVTD trở thành sản phẩm tin dụng rất cần thiết, phô biến va ngày càng được các ngân hàng quan tâm và đây mạnh mở rộng các sản phẩm này. Đây cũng mở ra hàng ngàn cơ hội để các NH cạnh tranh giành lấy chỗ đứng của mình trên thị trường.
Vai trò của hoạt động cho vay tiêu dùng Là một sản phâm luôn được các NH quan tâm phát triển với mục đích thiết thực là thúc đây sự phát triển nền kinh tế, chắc hắn nó phải mang lại nhiều lợi ích cho chính các NH và các chủ thể khác trong nền kinh tế. Vậy lợi ích của việc cho vay tiêu dùng là gi? - Đối với các khách hàng: Cho vay tiêu dùng giúp thỏa mãn nhu cau tiêu dung trong đời sống sinh hoạt của khách hang. Đặc biệt, trong thời điểm xã hội đang có xu hướng phat triển, chất lượng cuộc sống càng được nâng cao thì nhu cầu về vật chất là điều tất yếu. Họ có nhu cầu nhiều hơn về việc mua nhà ở và các trang thiết bị, mua xe ô tô phục vụ di lại, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, nhu cầu về du lịch và xu thế đi du học.
Không chỉ thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng mà còn đáp ứng nhu cầu đó một cách đúng thời điểm dé đem lại lợi ích tối đa cho khách hàng. Thật vậy, thay vì con người phải cần thời gian làm việc, tiết kiệm tích lũy tiền bạc để mua được các hàng hóa, dịch vụ. mà họ mong muốn thì họ có thể tìm đến các khoản CVTD của NH để có thê đáp ứng nhu cầu cá nhân của mình. Ngoài ra, họ có thé có cơ hội mua săm các mặt hàng như bất động sản, thiết bị gia dụng.
ngay tại thời điểm chúng có xu hướng giảm giá. Bên cạnh đó, nhờ có các khoản CVTD này mà người dân có thể tránh xa các khoản cho vay nặng lãi. Với sự phát triển của ngân hàng, mọi người dân đều được dễ dàng tiếp cận với các khoản vay với mức lãi suất phù hợp, thời gian linh hoạt đáp ứng đúng và đủ nhu cầu cũng như khả năng thanh toán của KH để từ đó, không chỉ giúp khách hàng có một cuộc sống tốt hơn mà còn làm giảm áp lực trả nợ của họ. Qua đó, ta có thé thấy, CVTD có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao đời sống cả về vật chat lẫn tinh thần cho khách hang vay vốn, góp phan quan trọng trong phát triển đất nước.
- Đối với ngân hàng Cho vay tiêu dùng không chỉ thỏa mãn các nhu cầu của mỗi KH mà nó còn là nguôn thu nhập tương đối lớn của các NHTM. Bởi nhu cầu của con người là vô hạn trong khi đâu phải mọi lúc đều có sẵn tiền dé chi trả cho các nhu cầu đó. Vậy nên đây chính là tiềm năng sinh lời khá lớn đối với các NHTM. Cho vay tiêu dùng giúp tang sức cạnh tranh của NHTM: CVTD không chỉ giúp nâng cao sức cạnh tranh của các NHTM với nhau mà giúp các Nh cạnh trang với các TCTD khác.
Trong thị trường Việt Nam nói riêng, CVTD luôn được các NHTM chú trọng phát triển và không ngừng mở rộng bởi Việt Nam là một nước đang phát triển, đây là 1 môi trường day tiềm năng và cơ hội dé các NH mở rộng và phát triển. Vậy nên, có rất nhiều ngân hàng trong và ngoài nước tập trung vào phát triển CVTD bằng các ưu đãi hấp dan dé thu hút va tìm kiếm khách hàng một cách tối ưu nhất. Đối tượng của các khoản CVTD thường là các cá nhân, mà đây là một thành phần lớn trong nền kinh tế. Khi lôi kéo được sự quan tâm của một số lượng lớn khách hàng thì hình ảnh cũng như uy tín của NH được nâng cao.
Từ đó, làm cho sức cạch tranh của ngân hàng trong toàn khu vực đều tăng lên. Cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng ngày càng mở rộng thị trường. Đúng vậy, khi mà CVTD tập trung vào một lượng khách hàng khá lớn. Đây là điều kiện để NH mở rộng mối quan hệ đối với KH.
Từ đó, mở rộng thị trường trong lĩnh vực ngân hàng và khăng định vị thế của mình hơn nữa. Cho vay tiêu dùng đem lại thu nhập đáng kế cho NHTM: Tuy CVTD là các khoản cho vay với số tiền nhỏ, nhưng số lượng của khoản vay này luôn lớn do nhu cầu thì không ngừng tăng. Điều này giúp cho NH không những thu được một khoản lời lớn mà còn giúp các ngân hàng có thể phân tán rủi ro. Đồng thời, giúp NH giải quyết các khó khăn về nguồn vốn đầu ra, luân chuyên nguồn vốn một cách hiệu quả, tránh tình trạng nguồn vốn bị ứ đọng, không những không thé sinh lời ma còn phải chi trả cho các khoản chi phí huy động vốn.
Ngoài ra, hoạt động CVTD còn giúp các NHTM mở rộng và tạo nhiều mối quan hệ với khách hàng thân thiết hơn. Chất lượng dịch vụ tốt giúp tạo thiện cảm cho KH và tạo được hình ảnh đẹp cho NH trong mat KH hơn. Từ đó, tạo được sự tin tưởng của họ gián tiếp giúp NH có thé huy động tiền gửi nhiều hơn từ dân chúng dé đây mạnh HDKD của mình. - Đối với nén kinh tế: CVTD góp phần không nhỏ trong sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Bởi CVTD là để đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu thiết yêu của con người. Mà sự tăng trưởng được thể hiện qua mức tiêu dùng và mức sống của người dân. CVTD làm tăng cầu hàng hóa dịch vụ: CVTD thúc day chi tiêu của các cá nhân, từ đó làm tăng cầu về hàng hóa dịch vụ. Tạo động lực dé các nhà sản xuất mở rộng hoạt động sản xuất của mình đồng nghĩa với việc tạo công ăn việc làm cho người dân.
Qua đó, tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế giảm, thu nhập của người dân được nâng cao. Như vậy, ta thấy, CVTD không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với với nhiều chủ thể trong nền kinh tế như các NHTM, người tiêu dùng, các doanh nghiệp sản xuất,. mà còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế, góp phần không nhỏ trong chiến lược phát triển, đưa kinh tế của đất nước đi lên. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng - Về quy mô CVTD với mục đích thỏa mãn nhu cầu chỉ tiêu trong cuộc sống của đại bộ phận cư dân nên giá trị các khoản vay thường ở mức trung bình.
Trái lại, thì số lượng các khoản vay thì rất lớn vì nhu cầu tiêu dùng là một nhu cầu tất yếu đối với mọi tầng lớp dân cư. Đặc biệt đối với các ngân hàng theo xu hướng NH bán lẻ thì đây là khoản vay chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tông dư nợ cho vay. - Về lãi suất: Lãi suất các khoản cho vay này thường lớn hơn lãi suất CV thương mại do nó gồm cả phan bù rủi ro đồng thời phải bù đắp chi phí huy động vốn. Mỗi ngân hàng khác nhau có cách xác định lãi suất khác nhau.
Tuy nhiên, thông thường được áp dụng theo công thức: “Lãi suất cho vay = Chỉ phí HĐV + Rui ro tôn thất dự kiến + Phan bù kì hạn với những khoản cho vay DH + Lợi nhuận cận biên ” - Mức độ rủi ro: Vì số lượng các khoản CVTD rất lớn nên Ngân hàng luôn luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro: Rủi ro tín dụng, rủi ro đạo đức, rủi ro thông tin bất cân xứng. + Rui ro tín dụng: Do nguồn thanh toán cho các khoản vay lại phan lớn dựa vào nguồn thu nhập của KH nên ngân hàng dễ phải đối mặt với tình trạng khách hàng không hoàn trả nợ đúng hạn hay mất khả năng trả nợ do tình hình biến động của kinh tế hay các tác nhân khách quan khác gây ra làm cho KH mất đi khả năng trả nợ. +Rủi ro về đạo đức: Rủi ro này xảy ra khi các KH vay vốn có ý định vay vốn nhưng lại sử dụng sai mục đích dẫn đến mất khả năng chỉ trả.