Chương 1: Cho vay tiêu dùng và phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam — Chi nhánh Đông Đô. Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam — Chi nhánh Đông Đô. Trương Quang Nhật Lép: TCDN 53B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 3 CHUONG I: CHO VAY TIỂU DUNG VÀ PHAT TRIEN CHO VAY TIEU DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
Khái quát về cho vay tiêu dùng của ngân hang thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dich vụ tai chính với nghiệp vụ co bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng của NHTM trong đó ngân hàng thỏa thuận dé khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.
Nhằm giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa, dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ hưởng một mức song cao hon. Trước đây, hau hết các ngân hang (NH) không mặn mà với các khoản cho vay cá nhân và hộ gia đình vì họ đều cho răng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro cao. Tuy nhiên, từ sau thế chiến II, do sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và áp lực cạnh tranh đã buộc các NH phải hướng tới hoạt động cho vay tiêu dùng va coi khách hàng của hoạt động cho vay này là khách hàng tiềm năng của NH. Thực tế ở các nước phát triển cho thấy, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất.
Đặc điểm cho vay tiêu dùng Một là, quy mô từng món vay nhỏ, nhưng số lượng khách hàng thường rất đông. CVTD là khoản vay mà đối tượng đi vay là cá nhân, hộ gia đình để sử dụng vào mục đích mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt. Gia trị của khoản vay được xác định dựa trên giá trị của những hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng đang có nhu cầu tiêu dùng mà những hàng hóa, dịch vụ này thường có giá trị không lớn. Hơn nữa, khi đi vay khách hàng thường đã có một phan tiền tích lũy, tiết kiệm được nên giá trị khoản vay nhỏ hơn tổng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng.
Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt là nhu cầu không thê thiếu trong đời sống của mỗi con người nên việc phát sinh những khoản vay tiêu dùng là rất Trương Quang Nhật Lép: TCDN 53B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4 lớn. Chính vì vậy mà với số lượng khách hàng lớn thì tổng giá trị các khoản vay tiêu dùng cũng không phải nhỏ. Hai là, CVTD thường không xác định được hiệu quả trực tiếp từ phương án, dự án vay vốn. Bởi vì mục đích sử dụng vốn trong CVTD là mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt như mua nhà, xây nhà, cải tạo và sữa chữa nhà, mua ô tô phục vụ việc đi lại, mua săm vật dụng gia đình, chữa bệnh, du học,.
nên không thể xác định được hiệu trực tiếp từ việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó mà chỉ có thể xác định được sự thỏa mãn nhu cầu của khoản vay đem lại cho khách hàng, đem lại mức sống tốt hơn cho khách hàng. Ba là, rủi ro trong CVTD cao nên lãi suất CVTD thường cũng rất cao. Mọi khoản vay nói chung đều tiềm ân rất nhiều rủi ro. Lãi suất CVTD thường là cô định và được xác định dựa trên lãi suất huy động đầu vào của kỳ hạn cùng với kỳ hạn vay cộng với biên độ lãi suất và phần bù rủi ro.
Chính vì thế khi có sự biến động lãi suất huy động trên thị trường tăng, ngân hàng sẽ phải bù đắp mức lãi suất huy động này mà không thay đôi được mức lãi suất cho vay. Do vậy dé đảm bảo hiệu qua hoạt động, mức lãi suất CVTD bao giờ cũng cao hon mức lãi suất cho vay khác. Bon là, CVTD có tính nhạy cảm theo chu kỳ, nếu như nền kinh tế đang trong thời kỳ thịnh vượng thì nhu cầu tiêu dùng tăng lên. Nhu cầu về loại hình CVTD tăng lên do người dân cảm thấy lạc quan về tương lai, có nhu cầu sử dụng những mặt hàng vừa đẹp vừa bền lại có chất lượng đảm bảo.
Ngược lại, khi nên kinh tế khó khăn, nhất là khi họ thấy tình trạng thất nghiệp tăng lên và họ sẽ hạn chế vay ngân hàng. CVTD lúc này cũng giảm đi về nhu cầu, vì người dân chỉ lo đến nhu cầu tối thiéu trong sinh hoạt của họ. Năm là, khi vay tiêu dùng người dân đường như kém nhạy cảm với lãi suất, người tiêu dùng quan tâm đến khoản vay họ phải trả mỗi tháng hơn là lãi suất. Bởi vì khi tiêu dùng một loại hàng hóa dịch vụ nào đó, cho dù là hàng hóa có giá trị nhỏ hay giá trị lớn thì người đi vay cũng chỉ quan tâm đến thu nhập trong tương lai của mình có đủ dé trang trải cho khoản vay hiện nay hay không, nếu như phù hợp họ sẽ sẵn sàng đi vay dé thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình.
Sáu là, mức thu nhập và trình độ hoc vấn có tác động lớn đến việc sử dụng các khoản tiên vay của người tiêu dùng. Thật vậy, những người có thu nhập cao, có Trương Quang Nhật Lép: TCDN 53B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 5 trình độ học vấn thường có đòi hỏi cao hơn, khắt khe hơn trong việc chọn lựa những hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng. Họ thường chọn mua những mặt hàng xa xỉ, mẫu mã đẹp, chất lượng tuyệt hảo, nên họ thường vay với số tiền lớn hơn. Bảy là, chất lượng thông tin tài chính từ các khoản tín dụng tiêu dùng không cao.
Bởi vì, số lượng khách hàng vay tiêu dùng là rất lớn nên sẽ gây ra khó khăn cho ngân hàng trong việc thu thập các thông tin chính xác từ mỗi người đi vay. Hơn nữa vì những khoản vay tiêu dùng thường có giá trị nhỏ nên việc chứng minh tài chính của khách hàng vay thường bị cán bộ tín dụng xem nhẹ. Chính vì thế nhiều khách hàng cung cấp những thông tin tài chính không đúng với thực tế nhưng vẫn được cán bộ tín dụng sử dụng trong hồ sơ vay. Điều này là một rủi ro cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ.
Tám là, nguồn trả nợ của người đi vay tiêu dùng phụ thuộc vào nguồn thu nhập ôn định dành dé trả no NH. Hầu hết các khoản CVTD thì nguồn trả nợ không phải từ kết quả của việc sử dụng vốn vay ma được xác định dựa vào thu nhập từ lương, từ kinh doanh, từ cho thuê 6 tô, nhà 6,. của người đi vay. Day là nguồn thu nhập ôn định mà người đi vay phải chứng minh cho ngân hàng dé trả nợ vay.
Các nguồn thu nhập không chứng minh được, hoặc những nguồn thu nhập bất thường thì ngân hàng thường không lấy đó là căn cứ dé trả nợ vay ngân hàng. Các hình thức cho vay tiêu dùng Có nhiều tiêu thức khác nhau dé phân chia các hình thức cho vay tiêu dùng. Dựa vào những căn cứ khác nhau có thể phân loại nhiều hình thức cho vay tiêu dùng khác nhau. Căn cứ vào mục đích vay Theo mục đích vay, CVTD được chia thành hai hình thức CVTD cư trú: Là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng.
CVTD phi cư trú: Là các khoản vay tài trợ cho việc trang trải các chi phi mua sam xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí giáo dục, y tế, giải trí. Căn cứ vào phương thức hoàn trả Theo phương thức hoàn trả, CVTD được chia thành ba hình thức: CWTD trả góp: Là hình thức cho vay trong đó khách hàng vay phải trả cho Trương Quang Nhật Lép: TCDN 53B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6 ngân hàng tiền gốc và lãi làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Các khoản vay loại này nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm vật dụng đắt tiền như ôtô, xe máy. hoặc áp dụng khi thu nhập định kỳ của khách hàng vay không đủ để trang trải các khoản nợ một lần, hình thức này ton tại đưới khoản vay ngắn hạn hoặc trung hạn vì số tiền phải trả mỗi lần thường không lớn.
Số tiền trả trước nhiều hay ít tuỳ thuộc vào các yêu tố sau: Loại tài sản, đối với các tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trả trước nhiều và ngược lại; Thị trường tiêu thụ tài sản sau đã khi sử dụng, nếu tài sản đã sử dụng nếu vẫn có thé được tiếp tục mua, bán dễ dàng thì số tiền trả trước có xu hướng thấp và ngược lại; Môi trường kinh tế, nếu môi trường kinh tế ôn định tăng trưởng tốt thì số tiền trả trước sẽ có xu hướng cao và ngược lại; Năng lực tài chính của người đi vay, người đi vay có năng lực tài chính tốt số tiền trả trước sẽ cao hơn và ngược lại. Có ba phương pháp trả góp pho biến: - Phuong pháp gdp: Theo phương pháp này, trước hết lãi được tính bằng cách lây vốn gốc nhân với lãi suất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp vào vốn gốc rồi chia cho số kỳ hạn phải thanh toán đề tìm số tiền phải thanh toán mỗi kỳ. - Phương pháp lãi đơn: Vốn gốc được thanh toán đều nhau giữa các kỳ, còn tiền lãi được tính trên số dư nợ còn lại. - Phuong pháp hiện giá: Số tiền thanh toán bằng nhau mỗi kỳ hạn gồm cả gốc và lãi được tính băng cách quy về giá trị hiện tại của khoản tiền trong tương lai.
CVTD phi tra góp: Là các khoản vay đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời của cá nhân và hộ gia đình, được thanh toán một lần khi đáo hạn. Thường thì các khoản vay này có quy mô tương đối nhỏ và tồn tại đưới dạng vay ngắn hạn. CVTD tuân hoàn: Là khoản vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai.