Chuyển Biến Về Quan Hệ Sở Hữu Và Sử Dụng Đất Nông Nghiệp Tại Huyện Ứng Hòa, Hà Nội (1993-2012)

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh chuyển biến về quan hệ sở hữu sử dụng đất nông nghiệp tại huyện ứng hòa hà nội 1993 2012, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2014

109
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN ỨNG HÒA TRƯỚC NĂM 1993

1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ứng Hòa

1.1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.2. Bản đồ huyện Ứng Hòa

1.1.3. Địa giới của huyện

1.2. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Ứng Hòa trước năm 1993

1.2.1. Trong những năm thực hiện mô hình tập thể hóa nông nghiệp (1958 – 1978)

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN VỀ QUAN HỆ SỞ HỮU – SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN ỨNG HÒA – HÀ NỘI (1993 – 2012)

2.1. Chuyển biến về quan hệ sở hữu – sử dụng đất nông nghiệp huyện Ứng Hòa – Hà Nội (1993 - 2003)

2.1.1. Chuyển biến về sở hữu đất nông nghiệp theo tinh thần Luật Đất đai năm 1993

2.1.2. Chuyển biến về quan hệ sử dụng đất nông nghiệp

2.2. Chuyển biến về quan hệ sở hữu – sử dụng đất nông nghiệp huyện Ứng Hòa – Hà Nội (2003 – 2012)

2.2.1. Chuyển biến về sở hữu đất nông nghiệp theo tinh thần Luật Đất đai năm 2003

2.2.2. Tiếp tục chuyển biến về quan hệ sử dụng đất nông nghiệp

3. CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN BIẾN QUAN HỆ SỞ HỮU – SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỚI KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN ỨNG HÒA

3.1. Tác động đối với kinh tế

3.1.1. Tạo thuận lợi cho chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi trong nông nghiệp, hình thành vùng sản xuất hàng hóa

3.1.2. Góp phần chuyển biến cơ cấu kinh tế

3.2. Tác động đối với xã hội

3.2.1. Góp phần chuyển dịch về lực lượng lao động

3.2.2. Tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chuyển Biến Quan Hệ Sở Hữu Đất Nông Nghiệp Tại Huyện Ứng Hòa

Chuyển biến về quan hệ sở hữu đất nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa từ năm 1993 đến 2012 là một quá trình quan trọng, phản ánh sự thay đổi trong chính sách đất đaiquản lý đất đai của Nhà nước. Huyện Ứng Hòa, với vị trí địa lý thuận lợi và điều kiện tự nhiên phong phú, đã có những bước tiến đáng kể trong việc cải cách chính sách đất đai. Nghiên cứu này sẽ làm rõ những biến đổi trong quan hệ sử dụng đất và tác động của nó đến phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

1.1. Lịch Sử Và Bối Cảnh Chuyển Biến Quan Hệ Sở Hữu Đất

Lịch sử chuyển biến quan hệ sở hữu đất tại huyện Ứng Hòa bắt đầu từ những năm 1993, khi Luật Đất đai được ban hành. Luật này đã tạo ra một khung pháp lý mới cho việc giao quyền sử dụng đất cho hộ nông dân, từ đó khuyến khích họ đầu tư và phát triển sản xuất nông nghiệp.

1.2. Tình Hình Sử Dụng Đất Nông Nghiệp Trước Năm 1993

Trước năm 1993, thực trạng sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa gặp nhiều khó khăn. Mô hình tập thể hóa nông nghiệp không mang lại hiệu quả cao, dẫn đến tình trạng manh mún và kém hiệu quả trong sản xuất. Điều này đã thúc đẩy nhu cầu cải cách trong chính sách đất đai.

II. Những Thách Thức Trong Chuyển Biến Quan Hệ Sở Hữu Đất Nông Nghiệp

Quá trình chuyển biến quan hệ sở hữu đất nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa không chỉ gặp phải những thuận lợi mà còn đối mặt với nhiều thách thức. Những vấn đề như quản lý đất đai, sự thiếu đồng bộ trong thực hiện chính sách và sự phản ứng của người dân là những yếu tố cần được xem xét kỹ lưỡng.

2.1. Vấn Đề Quản Lý Đất Đai

Quản lý đất đai tại huyện Ứng Hòa gặp nhiều khó khăn do sự thiếu hụt thông tin và cơ sở dữ liệu về đất nông nghiệp. Điều này dẫn đến việc khó khăn trong việc theo dõi và kiểm soát tình hình sử dụng đất, gây lãng phí tài nguyên.

2.2. Phản Ứng Của Người Dân Đối Với Chính Sách

Người dân tại huyện Ứng Hòa có những phản ứng khác nhau đối với các chính sách đất đai mới. Một số người ủng hộ, trong khi một số khác lo ngại về việc mất quyền lợi và sự không công bằng trong phân bổ đất đai.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Chuyển Biến Quan Hệ Sở Hữu Đất

Để nghiên cứu về chuyển biến quan hệ sở hữu đất nông nghiệp, các phương pháp nghiên cứu lịch sử và lôgic được áp dụng. Số liệu thống kê từ các báo cáo và khảo sát thực tế cũng được sử dụng để phân tích tình hình sử dụng đất tại huyện Ứng Hòa.

3.1. Phương Pháp Nghiên Cứu Lịch Sử

Phương pháp nghiên cứu lịch sử giúp xác định các giai đoạn quan trọng trong quá trình chuyển biến quan hệ sở hữu đất. Qua đó, có thể hiểu rõ hơn về bối cảnh và nguyên nhân của những thay đổi này.

3.2. Phân Tích Số Liệu Thống Kê

Phân tích số liệu thống kê từ các báo cáo của huyện Ứng Hòa cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình sử dụng đất nông nghiệp. Điều này giúp đánh giá hiệu quả của các chính sách và đề xuất giải pháp cải thiện.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Chuyển Biến Quan Hệ Sở Hữu Đất

Chuyển biến quan hệ sở hữu đất nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa đã có những ứng dụng thực tiễn quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Việc cải cách chính sách đã tạo điều kiện cho người dân nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

4.1. Tác Động Đến Kinh Tế

Chuyển biến trong quan hệ sử dụng đất đã tạo ra cơ hội cho người dân đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Điều này góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

4.2. Cải Thiện Đời Sống Người Dân

Nhờ vào việc cải cách chính sách đất đai, đời sống của người dân tại huyện Ứng Hòa đã được cải thiện rõ rệt. Nhiều hộ gia đình đã có thu nhập ổn định hơn nhờ vào việc sử dụng đất hiệu quả.

V. Kết Luận Về Chuyển Biến Quan Hệ Sở Hữu Đất Nông Nghiệp

Chuyển biến quan hệ sở hữu đất nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa từ năm 1993 đến 2012 đã mang lại nhiều thay đổi tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.

5.1. Đánh Giá Tổng Quan

Quá trình chuyển biến đã giúp huyện Ứng Hòa cải thiện tình hình sử dụng đất nông nghiệp. Tuy nhiên, cần có những chính sách đồng bộ hơn để giải quyết các vấn đề còn tồn tại.

5.2. Hướng Đi Tương Lai

Trong tương lai, huyện Ứng Hòa cần tiếp tục cải cách chính sách đất đai để phù hợp với tình hình thực tế. Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh chuyển biến về quan hệ sở hữu sử dụng đất nông nghiệp tại huyện ứng hòa hà nội 1993 2012

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN ỨNG HÒA TRƯỚC NĂM 1993 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ứng Hòa 1.1 Điều kiện tự nhiên 1.1: Bản đồ huyện Ứng Hòa Địa giới của huyện: Huyện Ứng Hòa nguyên là phủ Ứng Thiên đời nhà Lê thuộc trấn Sơn Nam. Năm Gia Long thứ 13 (năm 1814) phủ Ứng Thiên đổi tên là phủ Ứng Hòa. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1831), khi tỉnh Hà Nội được thành lập, Ứng Hòa là một trong bốn phủ của tỉnh Hà Nội.

Phủ Ứng Hòa gồm các huyện Sơn Minh sau đổi thành Sơn Lãng, Chương Đức (sau đổi thành Chương Mỹ), Thanh Oai và Hoài An. Năm 1888, khi tỉnh Hà Đông được thành lập, phủ Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Đông. Năm 1891, thành lập phủ Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Đông, bao gồm huyện Yên Đức, Chương Mỹ và Sơn Lãng. Sau Cách mạng tháng Tám thành công, huyện Sơn Lãng đổi tên là huyện Ứng Hòa, huyện Yên Đức đổi tên là huyện Mỹ Đức.

Ngày 21/4/1965, tỉnh Hà Tây được thành lập theo Nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây gồm thị trấn Vân Đình và 29 xã là Cao Thành, Đại Cường, Đại Hùng, Đội Bình, Đông Lỗ, Đồng Tiến, Đồng Tân, Hoa Sơn, Hòa Lâm, Hòa Nam, Hòa Phú, Hòa Xá, Hồng Quang, Kim Đường, Liên Bạt, Lưu Hoàng, Minh Đức, Phù Lưu, Phương Tú, Quảng Phú Cầu, Sơn Công, Tân Phương, Tảo Dương Văn, Trầm Lộng, Trung Tú, Trường Thịnh, Vạn Thái, Viên An, Viên Nội. Ngày 27/12/1975, kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa V thông qua Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Sơn Bình.

Ngày 12/8/1991, kỳ họp thứ chín Quốc hội khóa VIII thông qua Nghị quyết chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây. Ngày 23/9/2003, Chính phủ ra Nghị định số 107/2003/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị trấn Vân Đình thuộc huyện Ứng Hòa. Theo đó, sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Tân Phương và một phần diện tích và dân số các xã Liên Bạt, Phương Tú, Vạn Thái vào thị trấn Vân Đình.

Sau khi điều chỉnh, huyện Ứng Hòa gồm 29 đơn vị hành chính gồm thị trấn Vân Đình và 28 xã. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ ngày 1/8/2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội theo Nghị quyết của kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa XII ngày 29/5/2008. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc thành phố Hà Nội. Sau những lần sát nhập trên, huyện có những thay đổi về tên gọi qua các thời kỳ nhưng địa giới huyện về cơ bản bản không có những thay đổi về đất đai.

Vị trí địa lý: Ứng Hòa là một huyện đồng bằng nằm ở phía Nam của thành phố Hà Nội. Phía Bắc giáp huyện Thanh Oai và huyện Chương Mỹ. Phía Nam giáp huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam. Phía Tây giáp sông Đáy, ngăn cách với huyện Mỹ Đức.

Phía Đông giáp huyện Phú Xuyên. Diện tích tự nhiên là 183,72 km2 (năm 2010), chiếm 5,5% tổng diện tích toàn thành phố Hà Nội. Huyện Ứng Hòa có 29 đơn vị hành chính, bao gồm 1 thị trấn và 28 xã, với 138 thôn, tổ dân phố. Huyện nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, đất đai mầu mỡ thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp sinh thái toàn diện và năng xuất cao.

Hệ thống kết cấu hạ tầng đang từng bước được xây dựng và cải thiện để có thể tạo bước đột phá làm tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Các tuyến trục giao thông quan trọng ( QL21B, 428 và các tuyến đường trục phát triển lớn của thủ đô Hà Nội, gồm trục phát triển Bắc – Nam, Trục phát triển phía Nam và tuyến đường Đỗ Xá – Quan Sơn) kết nối huyện Ứng Hòa với trung tâm Hà Nội, các trung tâm kinh tế của Thủ đô và các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Địa hình: Địa hình đồng bằng, tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình 1,5m – 4m, thấp nhất là 0,6m, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Dựa trên đặc điểm địa hình, lãnh thổ huyện có thể chia làm 2 vùng như sau: - Vùng 1 (vùng ven sông Đáy) gồm 14 xã là những xã năm dọc sông Đáy, phía trong đồng chủ yếu trồng lúa, phía ngoài đồng chủ yếu trồng cây công nghiệp ngắn ngày.

- Vùng 2 (vùng cao và trũng) gồm 14 xã và 1 thị trấn, chủ yếu trồng cây lúa và cây vụ Đông. Nhìn chung, địa hình của huyện rất thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp và thuận lợi cho việc bố trí các công trình công nghiệp. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khí hậu và thủy văn: Nằm trong vùng đồng bằng, huyện có đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa đồng thời là mùa hạ nóng ẩm; mùa đông lạnh, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Một số đặc điểm về khí hậu của huyện: - Nhiệt độ trung bình hàng năm: 23,5 độ C, trong đó cao nhất là 2,7độ C (tháng 6) và nhiệt độ thấp nhất là 16,0 độ C (tháng 1).

- Độ ẩm trung bình trong năm là 84%, trong đó tháng cao nhất (tháng 3 và tháng 4), tháng thấp nhất là (tháng 12) là 80%. - Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.760mm, trong đó tập trung vào tháng 8 và tháng 9 hàng năm và thấp nhất vào tháng 12. - Tổng số giờ nắng trong năm: 1. Khí hậu có hai mùa rõ rệt, độ ẩm cao, mưa nhiều thuận lợi cho sự phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới và một số loại cây ôn đới chất lượng cao.

Các loại tài nguyên - Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt đất rất là phong phú, gồm có nước từ sông Đáy và sông Nhuệ. Hiện nay, nguồn nước từ sông Nhuệ đang bị ô nhiễm nặng nề, tác động xấu tới sản xuất và đời sống nhân dân ven sông. Nước ngầm chưa được thăm dò, đánh giá cụ thể, nhưng theo kết quả sợ bộ co thấy mực nước ngầm khoảng ở độ sâu 15 – 25 m, chất lượng tốt có thể khai thác và sử dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. - Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 18.2: Cơ cấu phân bố đất đai năm 2010 Ha % so với tổng số Tổng diện tích đất tự nhiên 18.

Đất nông nghiệp 11.819 64,33 + Đất sản xuất nông nghiệp 10. Đất phi nông nghiệp 6.505 35,67 - Đất chuyên dùng 4.484 8,08 (Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ứng Hòa năm 2010) 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thời gian qua, diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm tương đối nhanh, từ 12. Đất chuyên dùng và đất ở đang có xu hướng gia tăng mạnh từ 4.487 ha năm 2005 tăng lên 5. Chuyển biến trên xuất phát từ thực tế yêu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội, xây dựng các trục đường giao thông lớn, nhu cầu mở rộng đô thị và các khu, cụm, điểm công nghiệp trong tương lai đòi hỏi phải có quỹ đất khá lớn, trong đó chủ yếu sẽ phải chuyển từ đất nông nghiệp sang sử dụng xây dựng cơ sở hạ tầng và dân sinh.

Hầu hết toàn bộ diện tích đất của huyện đã được sử dụng vào các mục đích kinh tế, dân sinh. Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người rất thấp, chỉ khoảng 650m2/người và 1.296m2/lao động nông nghiệp. Hệ số sử dụng đất nông nghiệp của huyện Ứng Hòa tương đối cao là 2,3 lần, khó có thể nâng lên cao hơn nữa và hầu hết diện tích đất huyện Ứng Hòa được tạo thành từ nguồn phù sa sông Hồng, có độ phì nhiêu cao, thích hợp và tốt cho nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây lương thực, rau, đậu thực phẩm và cây ăn quả. - Khoáng sản: Trên lãnh thổ của huyện chưa phát hiện loại tài nguyên khoáng sản nào có trữ lượng lớn, đáng kể.

Chủ yếu có một số loại: + Than bùn: có ở các xã vùng trũng khu Cháy (trên địa bàn các xã Trung Tú, Đồng Tân, Hòa Lâm, Trầm Lộng, Minh Đức, Kim Điền, Đông Lỗ và Đại Hùng) có than bùn với trữ lượng chưa xác định, đó là nguồn nguyên liệu làm phân hữu cơ vi sinh rất tốt cho trồng trọt. + Cát: hiện đang khai thác ở các xã dọc sông Đáy, từ Viên An đến Hồng Quang, bao gồm Viên An, Tân Phương, Hòa Nam và Hòa Phú phục vụ cho xây dựng cơ bản trong huyện. Điều kiện kinh tế - xã hội Điều kiện kinh tế Nông nghiệp là ngành kinh tế chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế huyện với tỷ trọng 44,3% (năm 2011). Sản xuất nông nghiệp phát triển 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tương đối ổn định, có sự chuyển biến quan trọng về cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp và nông thôn.

Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2011 (theo giá cố định năm 1994) đạt 849 tỷ đồng, trong đó trồng trọt là 396 tỷ đồng, chăn nuôi đạt 489 tỷ đồng. Tốc độ tăng bình quân/năm là 5,3%/năm, trong đó tốc độ tăng của ngành chăn nuôi là 6,8%/ năm, ngành trồng trọt là 3,4%/năm. Ứng Hòa đã tập trung chỉ đạo nhân rộng các mô hình nông nghiệp giá trị kinh tế cao nhằm phát huy tối đa hiệu quả giá trị sử dụng đất ở địa phương. Đẩy mạnh chương trình chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, theo các mô hình chuyên canh, đa canh, nuôi thủy sản (lúa + cá + vịt).

Năm 2009 tổng đàn gia súc, gia cầm của huyện duy trì khoảng gần 900. Đi đôi với việc đồn điền đổi thửa đã tạo điều kiện hình thành các trang trại sản suất đa dạng, đa canh kết hợp. Kinh tế trang trại tiếp tục phát triển (toàn huyện có 127 trang trại – vườn trại với diện tích 298 ha). Đặc biệt, để thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, huyện đã quy hoạch 12 điểm với 635 ha diện tích trồng rau an toàn tập trung tại các xã ven sông Đáy.

Cùng với chăn nuôi gia súc, gia cầm, một mũi nhọn khác của huyện là nuôi trồng thủy sản. Phát huy lợi thế của một huyện có vùng trũng thuận lợi cho sự phát triển ngư nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ