phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia thành 3 chương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 1 NÔNG NGHIỆP THÁI BÌNH VỚI ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG 1. Kinh tế nông nghiệp Thái Bình trước đổi mới Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển thuộc lưu vực sông Hồng với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển một nền kinh tế nông nghiệp toàn diện. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi đã mở ra trang sử mới cho cách mạng Việt Nam, cả nước có điều kiện để xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đối với Thái Bình, mảnh đất có truyền thống yêu nước, nhân dân cần cù lao động lại có điều kiện hết sức thuận lợi từ những thành quả của phong trào hợp tác xã trong những năm kháng chiến là những tiền đề cơ bản để Đảng bộ và nhân dân Thái Bình vững bước đi lên trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, bước sang thời kỳ mới Đảng bộ và nhân dân Thái Bình phải đối mặt với những thách thức hết sức hết sức nghiêm trọng trên tất cả các lĩnh vực. Trong nông nghiệp mặc dù là lĩnh vực được coi trọng hàng đầu nhưng qua các cuộc chiến tranh bị đánh phá nên sản xuất gặp nhiều khó khăn. Hầu hết hệ thống đường, cầu, đê điều công trình phục vụ nông nghiệp đều bị đánh phá nhiều nơi bị hư hỏng nặng.
Thêm vào đó điều kiện thời tiết diễn biến hết sức phức tạp cũng ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp nông thôn còn nhiều yếu kém, các hợp tác xã nông nghiệp chưa thể hiện được tính ưu việt hơn hẳn của mình, làm ăn có chiều hướng đi xuống, đội ngũ cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý trong các hợp tác xã nông nghiệp vừa thiếu, vừa yếu… Trong điều kiện đó, nhiệm vụ đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân Thái Bình là phải nhanh chóng khôi phục kinh tế tiếp tục đưa kinh tế của tỉnh nói LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 chung cũng như nông nghiệp nói riêng tiếp tục phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1975 dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ Thái Bình từng bước chỉ đạo thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân mà trước hết là người nông dân. Đại hội đại biểu Đảng bộ Thái Bình (7/1975) trên cơ sở quán triệt nhiệm vụ cách mạng chung của cả nước, đã xác định nhiệm vụ của Đảng bộ và nhân dân Thái Bình trong giai đoạn cách mạng mới: “ Tăng cường sự lãnh đạo và nâng cao sức chiến đấu của Đảng, phát huy vai trò làm chủ xã hội chủ nghĩa của quần chúng… tổ chức và động viên toàn Đảng, toàn dân, đoàn kết phấn đấu khai thác mọi khả năng tiềm tàng, ra sức đẩy mạnh sản xuất phát triển với tốc độ nhanh, đồng đều, vững chắc, trọng tâm là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp” [27;tr.
Để thực hiện nhiệm vụ trên Tỉnh uỷ xác định phương hướng hành động của tỉnh là: “ từ đất và sức lao động đi ra, từ lúa và lợn đi lên”. Trong 4 phương hướng cơ bản trong phát triển kinh tế của tỉnh đã xác định nhiệm vụ đối với nông nghiệp “ tiếp tục đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng và gia súc lên một bước, trọng tâm là lúa, phấn đấu đạt năng suất 8- 9 tấn/ha, ra sức mở rộng thêm diện tích canh tác và diện tích gieo trồng, tích cực thực hiện một bước phân công lao động xã hội, trước hết là trong nông nghiệp” [27;tr16]. Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh đã ra sức khắc phục khó khăn để đẩy mạnh sản xuất. Các phong trào thi đua trong sản xuất diễn ra sôi nổi như phong trào mở rộng diện tích canh tác, tăng năng suất cây trồng mà trọng tâm là cây lúa, phong trào đẩy mạnh chăn nuôi trong các hợp tác xã nông nghiệp, phong trào đưa các giống lúa mới năng suất cao vào sản xuất… Để chỉ đạo kịp thời phong trào sản xuất, thực hiện thắng lợi kế hoạch dài hạn 5 năm, Tỉnh uỷ đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị chỉ đạo trên từng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 lĩnh vực như: Nghị quyết số 03, 06 NQ/TV Về phương hướng sản xuất năm 1975- 1976, Chỉ thị Về việc phát triển ngành nghề phụ trong các hợp tác xã nông nghiệp, Chỉ thị chỉ đạo việc tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp… Tiếp đó, tháng 4/ 1977 Đại hội đại biểu đảng bộ lần thứ X tiếp tục khẳng định đường lối chung và đường lối kinh tế của Đảng trong kế hoạch 5 năm, trong đó chỉ rõ lĩnh vực nông nghiệp phải “Tập trung cao độ lực lượng của toàn Đảng, toàn dân trong tỉnh, của các cấp, các ngành, phát huy những khả năng tiềm tàng to lớn về đất đai, lao động, cơ sở vật chất, kỹ thuật, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tạo ra bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp, trước hết là sản xuất lương thực và chăn nuôi lợn, đưa nông nghiệp từng bước tiến nhanh lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” [28;tr6].
Quán triệt tinh thần Nghị quyết X của Tỉnh uỷ “phấn đấu tạo cơ sở từng bước đưa nền kinh tế sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, từng bước xây dựng cơ cấu nông nghiệp phát triển, xác định sản xuất lương thực là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của tỉnh, là mũi nhọn của nông nghiệp, là chìa khoá để giải quyết những vấn đề then chốt đặt ra cho sản xuất và đời sống” [29;tr3]. Với những chủ trương, biện pháp chỉ đạo của tỉnh uỷ, trong những năm 1975-1978, sản xuất nông nghiệp Thái Bình đã có những chuyển biến tích cực. Việc bố trí lại sản xuất, áp dụng các biện pháp kỹ thuật, đưa giống cây trồng, vật nuôi mới vào sản xuất được áp dụng, việc mở rộng qui mô hợp tác xã được tích cực đẩy mạnh. Tuy nhiên, trong điều kiện mới dưới sự tác động của các qui luật kinh tế, cùng với hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại và diễn biến của tình hình thời tiết phức tạp, hoạt động sản xuất của Thái Bình cũng như của cả nước những năm này không đạt kết quả như mong muốn.
Sai lầm lớn nhất thuộc về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội mà không thấy hết được những khó khăn, thách thức trong thời kỳ quá độ. Trong nông nghiệp chúng ta đã không kịp thời tổng kết, đổi mới căn bản mô hình hợp tác xã nông nghiệp, mà tất cả các biện pháp như mở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 rộng quy mô hợp tác xã, tổ chức phân công lại lao động theo hướng chuyên môn hoá, khoán việc không phải là những biện pháp có thể củng cố được hợp tác xã. Ở Thái Bình, mặc dù năng suất lúa trong những năm 1975-1978 có tăng song không đồng đều giữa các lĩnh vực, tốc độ tăng không đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội và tốc độ tăng dân số. Để khắc phục những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp tháng 9/1979, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị lần thứ 6 (khoá IV).
Hội nghị đã đánh dấu một bước ngoặt mới trong chủ trương cải tiến quản lý kinh tế ở nước ta. Đối với nông nghiệp, hội nghị đã quyết định nhiều vấn đề như: ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, nhân dân được tự do lưu thông sản phẩm ngoài nghĩa vụ, điều chỉnh giá mua nông sản… thừa nhận kinh tế gia đình có vai trò to lớn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội… Tuy nhiên hội nghị chưa giải quyết được vấn đề cốt lõi là mối quan hệ ruộng đất. Mặc dù vậy, hội nghị mở ra một hướng đi mới, đúng đắn trong nông nghiệp: lấy việc đem lại lợi ích kinh tế cho người lao động làm động lực phát triển sản xuất. Đó là sự bắt đầu của quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng.
Quán triệt Nghị quyết TƯ 6, tỉnh uỷ Thái Bình đã chủ trương chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở công tác quản lý sản xuất, khoán, đẩy mạnh sản xuất. Nhiều nơi, hợp tác xã đã tổ chức cho xã viên mượn đất, san ghềnh, lấp trũng, mở rộng diện tích gieo trồng. Kết quả là đã bước đầu tạo ra chuyển biến mới trong sản xuất, diện tích đất giành cho chăn nuôi được đảm bảo đã khuyến khích chăn nuôi đặc biệt là nuôi lợn, thả cá. Tiếp theo đó, việc thực hiện chủ trương “ mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện các hình thức khoán trong sản xuất nông nghiệp” của Hội nghị 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IV) đã đem lại những chuyển biến tích cực trong nông nghiệp nông thôn Thái Bình.
Ngày 13/1/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 100- CT/ TW về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng và “khoán sản phẩm cuối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cùng đến nhóm và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp”. Điểm mới của chỉ thị là đã bước đầu khôi phục lại quyền tự chủ về sử dụng ruộng đất của các hộ nông dân xã viên, gắn ruộng đất với người lao động, bước đầu xoá bỏ phương thức quản lý tập trung quan liêu, sản xuất tập thể “cha chung không ai khóc”… Chỉ thị đã chỉ ra: khoán sản phẩm là một hình thức quản lý và trả công lao động, gắn trách nhiệm và quyền lợi của người lao động với sản phẩm cuối cùng một cách trực tiếp, có tác dụng phát huy tính tích cực, tự giác của xã viên, củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất và chế độ làm chủ tập thể. Chỉ thị 100 CT/TW đánh dấu sự chuyển biến bước đầu của cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người lao động nên được đông đảo bà con nông dân đồng tình. Đây là nguồn động lực mới cổ vũ các hộ gia đình nông dân phấn khởi, mạnh dạn đầu tư thâm canh tăng năng suất, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển.
Dưới ánh sáng của chỉ thị 100 CT/TW, Ban thường vụ tỉnh uỷ đã chỉ đạo làm thí điểm khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động ở 123 hợp tác xã ngay trong vụ xuân năm 1981 để kịp thời sơ kết rút kinh nghiệm và nhân rộng trong toàn tỉnh.