Tổng quan nghiên cứu

Làng nghề tái chế nhôm Bình Yên thuộc xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định có diện tích 16 ha, là nơi cư trú của 570 hộ gia đình với 1.950 nhân khẩu. Khởi đầu từ 4 hộ sản xuất thủ công vào năm 1989, đến nay làng đã phát triển quy mô lên tới 269 cơ sở sản xuất đồ nhôm gia dụng, bao gồm 86 hộ cô đúc phế liệu, 161 hộ cán kéo tạo hình và 22 hộ dịch vụ phụ trợ. Hoạt động sản xuất tại đây cung ứng ra thị trường khoảng 100 tấn sản phẩm mỗi ngày, mang lại tổng doanh thu đạt 70 tỷ đồng mỗi năm, đồng thời tạo sinh kế ổn định cho 1.000 lao động địa phương cùng 500 lao động thời vụ từ các vùng lân cận. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về quy mô sản xuất tự phát đã gây áp lực nặng nề lên môi trường tự nhiên khi toàn bộ khí thải lò nung, nước thải tẩy rửa hóa chất và xỉ thải kim loại đều bị xả thẳng ra môi trường sống.

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Môi trường được thực hiện trong thời gian từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 9 năm 2014 nhằm giải quyết bài toán xung đột giữa tăng trưởng kinh tế làng nghề và bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá hiện trạng ô nhiễm, phân tích các rào cản nhận thức cộng đồng, từ đó thiết kế một chương trình truyền thông môi trường khả thi, có khả năng huy động sự tham gia tự giác của 80% người dân nhằm giảm thiểu ít nhất 30% lượng chất thải nguy hại phát tán trực tiếp ra môi trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý môi trường liên ngành kết hợp với xã hội học truyền thông, trọng tâm là mô hình chuyển đổi nhận thức Kiến thức - Thái độ - Hành vi (K-T-H) và quy trình thiết kế truyền thông môi trường chuẩn hóa gồm 8 bước logic. Cùng với đó, mô hình phân tích ma trận SWOT gồm 4 thành tố cơ bản (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) được tích hợp để đánh giá toàn diện năng lực nội tại và bối cảnh ngoại cảnh của địa phương.

Ba khái niệm học thuật cốt lõi được vận dụng xuyên suốt công trình gồm: ô nhiễm phân tán làng nghề, truyền thông môi trường tương tác hai chiều và sản xuất sạch hơn tại nguồn. Truyền thông môi trường trong nghiên cứu không đơn thuần là hoạt động cung cấp thông tin một chiều, mà là quá trình tương tác xã hội nhằm thúc đẩy 3 giai đoạn chuyển biến tâm lý: từ việc nâng cao hiểu biết về độc tính hóa chất, thay đổi thái độ thờ ơ sang chủ động chia sẻ trách nhiệm cộng đồng, và cuối cùng là duy trì các hành vi bảo vệ môi trường bền vững trong quá trình sản xuất.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp phương pháp kế thừa dữ liệu thứ cấp từ các dự án quan trắc môi trường của Cục Kiểm soát ô nhiễm và Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Nam Định với phương pháp khảo sát thực địa và điều tra xã hội học định lượng. Cỡ mẫu điều tra thực tế đạt 113 phiếu khảo sát hợp lệ, được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích, bao gồm: 70 hộ gia đình trực tiếp tái chế nhôm (đại diện cho 86 hộ cô đúc và 161 hộ cán kéo), 30 hộ làm nông nghiệp hoặc dịch vụ, 10 cán bộ đại diện các đoàn thể địa phương và 3 chuyên viên quản lý môi trường cấp tỉnh và huyện.

Phương pháp điều tra phỏng vấn bán cấu trúc kết hợp với phân tích ma trận SWOT cho phép nhận diện chính xác các nguyên nhân tâm lý, tập quán sản xuất manh mún và sự thiếu hụt kiến thức kỹ thuật của từng nhóm cư dân. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 9 năm 2014, trong đó hoạt động khảo sát thực địa chuyên sâu và phỏng vấn trực tiếp được triển khai tập trung vào tháng 4 năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, môi trường không khí tại khu vực sản xuất bị ô nhiễm nghiêm trọng do khí thải từ các lò nung hở sử dụng than cám có hàm lượng lưu huỳnh 0,9% và tro xỉ 15%. Kết quả phân tích chất lượng khí thải tại lò đúc của hộ ông Bùi Quang Cảnh cho thấy nồng độ bụi dao động từ 3.721 đến 5.527 mg/Nm3, vượt từ 18,6 đến 27,6 lần so với QCVN 19:2009/BTNMT Cột B (quy chuẩn cho phép 200 mg/Nm3). Khí SO2 đạt mức 932 đến 2.154 mg/Nm3, vượt từ 1,86 đến 4,3 lần quy chuẩn; nồng độ NOx đạt 1.036 đến 1.458 mg/Nm3; đồng thời khí CO trong nhà xưởng vượt 1,76 lần và hàm lượng NH3 trong không khí xung quanh vượt 2,87 lần tiêu chuẩn an toàn.

Thứ hai, nguồn nước mặt và nước thải sản xuất bị nhiễm độc hóa chất nặng nề bắt nguồn từ công đoạn tẩy rửa, đánh bóng bề mặt nhôm bằng dung dịch xút (NaOH), axit sunfuric (H2SO4) và axit cromic (H2CrO4). Tại sông Nam Ninh Hải tiếp nhận nguồn xả của làng nghề, hàm lượng crom hóa trị 6 (Cr6+) vượt tới 3.212,5 lần QCVN, chất rắn lơ lửng (SS) vượt 12,2 lần, nhu cầu oxy hóa học (COD) vượt 20,3 lần và nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) vượt 21,2 lần quy chuẩn. Ngay tại nước thải nội bộ của các hộ sản xuất, nồng độ Cr6+ cũng vượt tới 1.570 lần và BOD5 vượt 12,4 lần.

Thứ ba, chất thải rắn nguy hại từ quá trình cô đúc gồm hàng chục tấn xỉ than và xỉ kim loại chứa chì (Pb) và kẽm (Zn) phát sinh mỗi tháng bị đổ tràn lan ra ven đường liên thôn và kênh mương tưới tiêu. Hiện trạng khảo sát cho thấy 100% cơ sở gia đình chưa lắp đặt hệ thống lọc khí độc và xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật.

Thảo luận kết quả

Thực trạng ô nhiễm bắt nguồn từ đặc thù sản xuất gia đình manh mún, công nghệ lò nung thủ công lạc hậu và tâm lý ưu tiên tối đa hóa lợi nhuận trước mắt. Khi đối chiếu với các nghiên cứu tại làng nghề tái chế kim loại Văn Môn (tỉnh Bắc Ninh) với tỷ lệ người dân mắc bệnh hô hấp là 44% hay làng nghề Vân Chàng (tỉnh Nam Định) có 90% thợ thủ công mắc triệu chứng bệnh ngoài da và 50% rối loạn thần kinh, mức độ phơi nhiễm độc chất tại làng Bình Yên đang ở ngưỡng báo động cao, đe dọa làm suy giảm từ 5 đến 10 năm tuổi thọ trung bình của cư dân. Tổn thất kinh tế do chi phí y tế tại các xã làng nghề ô nhiễm thường cao gấp 2,4 đến 2,85 lần so với các vùng thuần nông.

Dữ liệu thực nghiệm của luận văn được trực quan hóa mạch lạc thông qua bảng tổng hợp đối chiếu nồng độ các chất ô nhiễm với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, kết hợp biểu đồ ma trận SWOT và sơ đồ phân tầng đối tượng theo mô hình K-T-H. Cách tiếp cận này làm nổi bật mối liên hệ nhân quả giữa quy trình công nghệ cũ kỹ và nhận thức hạn chế của người dân, tạo cơ sở thực chứng vững chắc cho việc thiết kế giải pháp can thiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Tác giả đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp chặt chẽ giữa truyền thông nâng cao nhận thức, hỗ trợ kỹ thuật và thực thi chính sách:

  • Tổ chức các khóa tập huấn kỹ thuật sản xuất sạch hơn cho 100% chủ cơ sở cô đúc và cán kéo (269 hộ) do UBND xã Nam Thanh phối hợp cùng Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Nam Định thực hiện trong quý 1 và quý 2 năm 2015, hướng tới mục tiêu giảm 30% lượng than tiêu thụ và giảm 20% lượng xỉ kim loại phát sinh thông qua việc cải tiến buồng đốt lò nung.
  • Thiết lập chiến dịch truyền thông đa phương tiện tại địa phương gồm 2 buổi phát thanh chuyên đề mỗi tuần trên loa truyền thanh xã, phát hành 500 cuốn sổ tay hướng dẫn an toàn hóa chất và phát động phong trào "Con đường màu xanh" do Đoàn Thanh niên và Hội Phụ nữ chủ trì, nhằm nâng tỷ lệ hộ dân thu gom và lưu giữ xỉ thải đúng nơi quy định lên 85% trước tháng 12 năm 2015.
  • Ban hành hương ước bảo vệ môi trường làng nghề gắn liền với chế tài xử phạt hành chính định kỳ 3 tháng một lần do UBND huyện Nam Trực chỉ đạo, đồng thời xây dựng bãi tập kết và trung chuyển chất thải nguy hại tập trung có công suất 10 tấn mỗi ngày đi vào hoạt động từ đầu năm 2016.
  • Cung cấp gói tín dụng ưu đãi lãi suất thấp từ Quỹ Bảo vệ Môi trường tỉnh Nam Định và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhằm hỗ trợ ít nhất 50 hộ sản xuất đầu tư lắp đặt tháp hấp phụ khí SO2 và hệ thống bể lắng trung hòa nước thải axit trong giai đoạn 2015 đến 2017.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý môi trường và chính quyền địa phương: Nghiên cứu cung cấp khung hướng dẫn chuẩn mực gồm 8 bước xây dựng chương trình truyền thông môi trường có sự tham gia của cộng đồng, giúp tháo gỡ các điểm nóng ô nhiễm tại các làng nghề nông thôn tương tự.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường: Tài liệu là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp tích hợp số liệu quan trắc lý hóa với điều tra xã hội học K-T-H và phân tích ma trận SWOT trong nghiên cứu ứng dụng.
  • Các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội phát triển cộng đồng: Cung cấp tư liệu thực tế và bộ công cụ truyền thông trực quan gồm sổ tay, áp phích, tờ rơi và kịch bản sinh hoạt nhóm được thiết kế phù hợp với đặc thù văn hóa làng xã.
  • Chủ cơ sở sản xuất và doanh nghiệp tái chế nhôm: Tài liệu hỗ trợ nhận diện rõ các dòng phát thải nguy hại từ khâu nấu chảy đến tẩy rửa bề mặt, từ đó chủ động áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn nhằm tiết kiệm năng lượng và bảo vệ sức khỏe người lao động.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao nồng độ crom hóa trị 6 trong nước mặt tại sông Nam Ninh Hải lại vượt quy chuẩn hơn 3.200 lần?

Do 269 hộ sản xuất tại làng nghề sử dụng trực tiếp các hóa chất axit cromic và xút để tẩy rửa dầu mỡ và tạo độ bóng cho các sản phẩm nhôm gia dụng. Toàn bộ lượng nước thải chứa kim loại nặng độc hại này đều được xả thẳng ra hệ thống kênh mương hở rồi chảy trực tiếp ra sông mà không qua bất kỳ công đoạn xử lý hay lắng lọc nào.

  1. Mô hình K-T-H đóng vai trò gì trong việc thay đổi hành vi xả thải của người dân?

Mô hình K-T-H giúp phân tích và tác động tuần tự vào 3 nấc thang nhận thức: cung cấp kiến thức về tác hại của khí SO2 và nước thải axit (Kiến thức), chuyển đổi thái độ từ thờ ơ sang đồng thuận bảo vệ môi trường (Thái độ), từ đó thúc đẩy 100% hộ dân tự giác che chắn lò nung và gom xỉ thải đúng chỗ (Hành vi).

  1. Quá trình cô đúc nhôm thủ công phát sinh những chất ô nhiễm không khí nguy hại nào?

Hoạt động đốt than cám chứa 0,9% lưu huỳnh trong lò nung hở kết hợp với tạp chất sơn, dầu mỡ trong phế liệu nhôm đã phát tán lượng bụi cao gấp 27,6 lần quy chuẩn, khí SO2 vượt 4,3 lần, cùng các loại khí độc như NOx (lên tới 1.458 mg/Nm3), CO và hơi kim loại nặng gây tổn thương trực tiếp hệ hô hấp.

  1. Hoạt động tái chế nhôm đóng góp như thế nào vào bức tranh kinh tế - xã hội địa phương?

Làng nghề giải quyết việc làm cho 1.000 lao động thường xuyên tại chỗ và 500 lao động phụ trợ từ các xã lân cận, sản xuất khoảng 100 tấn hàng hóa mỗi ngày với tổng giá trị đạt 70 tỷ đồng mỗi năm, giúp nâng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ của địa phương lên mức 60% đến 80%.

  1. Đâu là giải pháp then chốt để xử lý dứt điểm lượng xỉ thải kim loại đổ bừa bãi ven đồng ruộng?

Chính quyền địa phương cần khẩn trương quy hoạch bãi lưu giữ xỉ thải nguy hại có mái che chống thấm nước mưa, phối hợp với các viện nghiên cứu chuyển giao công nghệ cô đúc tận thu kim loại nhôm còn sót lại, đồng thời liên kết với các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng để tái chế xỉ than làm gạch không nung.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện bức tranh phát triển kinh tế 70 tỷ đồng mỗi năm của làng nghề Bình Yên, đồng thời chỉ rõ mức độ ô nhiễm không khí và nguồn nước vượt quy chuẩn từ 1,76 đến 3.212,5 lần.
  • Hoàn thành bộ khảo sát thực nghiệm trên 113 phiếu điều tra, xác định chính xác các điểm nghẽn về kiến thức, thái độ và hành vi của các nhóm đối tượng dân cư.
  • Xây dựng thành công khung chương trình truyền thông môi trường 8 bước hoàn chỉnh, kết hợp đồng bộ các kênh nghe, nhìn và sự kiện cộng đồng trực tiếp.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, tài chính và quản lý với mục tiêu cắt giảm 30% lượng than tiêu thụ và vận hành trạm trung chuyển chất thải 10 tấn mỗi ngày trong giai đoạn 2015 đến 2017.
  • Khẳng định truyền thông môi trường là công cụ then chốt giúp xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, chuyển hóa nhận thức thành hành động cụ thể của từng người dân.

Hãy tham khảo và ứng dụng các giải pháp truyền thông môi trường của đề tài để chung tay kiến tạo các làng nghề truyền thống Việt Nam phát triển xanh, sạch và bền vững.