CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Làng nghề Việt Nam 1. Lịch sử phát triển các làng nghề Việt Nam Làng nghề xuất hiện từ rất lâu đời, gắn liền với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước, điển hình như các làng nghề ở Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Hưng Yên, có từ thời nhà Lê, Nhà Lý [27]. Thông thường chỉ những ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nông dân mới có nhiều việc để làm như: cày bừa, cấy, làm cỏ (đầu vụ) cho đến gặt lúa, phơi khô.
Những ngày còn lại thì nhà nông rất ít việc. Từ đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm những công việc phụ nhằm tăng thu nhập cho gia đình. Theo thời gian, nhiều nghề phụ đã thể hiện vai trò to lớn của nó, mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân. Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân.
Ban đầu chỉ là một vài nhà trong làng làm, sau đó nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó đã lan rộng phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau. Nghề đem lại lợi ích lớn thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề có hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một. Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng Gốm, làng làm chiếu, làng làm lụa, làng làm đồ đồng. Làng nghề trước Cách mạng tháng Tám đã khá phong phú, đa dạng, nhìn chung không khác nhiều so với các nghề đương thời.
Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, có thể chia lịch sử phát triển của làng nghề thành các giai đoạn sau [6]: - Giai đoạn 1954 – 1978: Do chính sách Công nghiệp hóa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, một số làng nghề đã xuất hiện những hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu sản xuất các mặt hàng xuất khẩu sang các nước xã hội chủ nghĩa, với hàng hóa chính là hàng thủ công mỹ nghệ. Do chủng loại, số lượng và giá trị hàng hóa được quyết định bởi đường lối, chính sách của Nhà nước nên ở giai đoạn này, nhiều làng nghề đã bị mai một 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giai đoạn 1978 – 1985: Kinh tế chính trị thế giới có nhiều biến động, cùng với sức ép về dân số và sự cấm vận của Mỹ, kinh tế Việt Nam đã lâm vào giai đoạn khủng hoảng, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Sự suy sụp của hệ thống bao cấp đã khiến các hộ nông dân và tiểu thủ công nghiệp buộc phải tìm đường cải thiện cuộc sống theo con đường tự phát. Nhiều làng nghề đã được khôi phục lại nhằm đáp ứng nhu cầu rất thấp của nhân dân.
- Giai đoạn 1986 – 1992: Đây là giai đoạn quan trọng đối với sự phát triển của làng nghề, được đánh dấu bằng sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường. Trong giai đoạn này, nhiều làng nghề truyền thống đã được khôi phục và phát triển, mở rộng quy mô, hình thành nhiều cơ sở kinh doanh mới, thu hút ngày càng nhiều lao động, tăng dần sản lượng và kim ngạch xuất khẩu… Điển hình như làng gốm Bát Tràng, gốm Đồng Nai, chạm khắc Hà Tây - Giai đoạn từ năm 1993 đến nay: Sự hội nhập nền kinh tế thế giới, cùng với thời kỳ dỡ bỏ sự cấm vận của Mỹ, sự hợp tác kinh tế và thị trường của Việt Nam không ngừng được mở rộng. Nhiều làng nghề đã khôi phục nhanh chóng, trong đó nhiều làng vẫn duy trì được cả nghề nghiệp và mặt hàng truyền thống (như làng Chạm bạc Đồng Xâm, làng nghề thêu Quất Động, làng gốm Bát Tràng…). Hơn nữa nhiều làng nghề mới đã được hình thành (Làng gỗ Đồng Kỵ, gạch ngói Hương Canh…).
Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thông, tiêu chí công nhận làng nghề bao gồm: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; - Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tính đến tháng 4 năm 2014, tổng số làng nghề và làng có nghề trên toàn quốc là 3.318 làng nghề đã được công nhận và 2.037 làng nghề chưa được công nhận. Làng nghề hiện nay được phân bố không đồng đều giữa các vùng miền trên phạm vi toàn quốc, tập trung chủ yếu tại khu vực miền bắc [21]. Phân loại các làng nghề Khi quan tâm tới vấn đề môi trường làng nghề, tiếp cận cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp nhất.
Thực tế cho thấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau về nguyên nhiên liệu, qui trình sản xuất, nguồn và dạng chất thải khác nhau vì vậy có những tác động khác nhau đối với môi trường. Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm ngành chính (Biểu đồ 1), mỗi phân ngành chính có nhiều ngành nhỏ. Theo Báo cáo môi trường quốc gia 2008 – Môi trường làng nghề Việt Nam, làng nghề Việt Nam có thể phân nhóm như sau: Biểu đồ 1. Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất [2] Mỗi nhóm làng nghề được phân loại theo ngành sản xuất đều mang những đặc điểm riêng.
Dưới đây là đặc điểm của một số loại hình làng nghề chủ yếu mà hoạt động sản xuất có ảnh hưởng nhiều tới môi trường. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: chiếm 20% tổng số làng nghề, phân bố khá đều trên cả nước, công việc không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công và gần như ít thay đổi về quy trình sản xuất so với thời điểm khi hình thành nghề. Phần lớn các làng chế biến lương thực, thực phẩm nước ta là các làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như nấu rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ, miến dong, bún, bánh đậu xanh, bánh gai,. với nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn, đậu và thường gắn với hoạt động chăn nuôi ở quy mô gia đình.
Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: nhiều làng nghề có từ lâu đời với các sản phẩm mang tính lịch sử, văn hóa, mang đậm nét địa phương. Những sản phẩm như lụa tơ tằm, thổ cẩm, dệt may,. không chỉ là những sản phẩm có giá trị mà còn là những tác phẩm nghệ thuật được đánh giá cao. Quy trình sản xuất tại nhóm làng nghề này không thay đổi nhiều, lao động có tay nghề cao.
Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: hình thành từ hàng trăm năm nay, tập trung ở những vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cơ bản cho hoạt động xây dựng. Khi đời sống được nâng cao, nhu cầu về xây dựng nhà cửa, công trình ngày càng tăng, hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng phát triển nhanh ở nông thôn. Các làng nghề này có quy trình công nghệ thô sơ, tỉ lệ cơ khí hóa thấp, ít thay đổi. Nghề khai thác đá cũng phát triển ở những làng gần các núi đá vôi được phép khai thác, cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ và vật liệu xây dựng.
Làng nghề tái chế phế liệu: chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số lượng ít, nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy, nhựa, vải đã qua sử dụng). Ngoài ra các làng nghề cơ khí chế tạo và đúc kim loại với nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng được xếp vào loại hình làng nghề này. Đa số các làng nghề nằm ở phía Bắc, công nghệ sản xuất đã từng bước được cơ khí hóa. Làng nghề thủ công mỹ nghệ: bao gồm các làng nghề gốm, sành sứ thủy tinh mỹ nghệ; chạm khắc đá, chạm mạ bạc vàng, sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sơn mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren.
Đây là nhóm làng nghề chiếm tỷ trọng lớn về số lượng (gần 40% tổng số làng nghề), có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao, mang đậm nét văn hóa, và đặc điểm địa phương, dân tộc. Các nhóm ngành khác: bao gồm các làng nghề chế tạo nông cụ thô sơ như cày bừa, cuốc xẻng, liềm hái, mộc gia dụng, đóng thuyền, làm quạt giấy, dây thừng, đan vó, đan lưới, làm lưỡi câu,. Những làng nghề nhóm này xuất hiện từ lâu, sản phẩm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương. Lao động phần lớn là thủ công với số lượng và chất lượng ổn định.
Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam 1. Làng nghề với sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn Sự phát triển kinh tế của các làng nghề đã góp phần đổi mới bộ mặt nông thôn, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nơi đây. Nhìn chung hiện nay, có thể nói, điều kiện hạ tầng cơ sở tại các làng nghề tốt hơn so với hạ tầng cơ sở ở các làng vùng nông thôn khác, đặc biệt là về điều kiện giao thông và điện. Tuy nhiên, đường giao thông trong các làng nghề nhìn chung vẫn nhỏ và hẹp, không đủ sức để vận chuyển hàng hóa với khối lượng lớn cùng lúc.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở những nơi tập trung nhiều làng nghề như khu vực Đồng Bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ, nhìn chung phát triển khá tốt. Khu vực miền núi, cũng có 1 số làng nghề phát triển, tuy nhiên điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưa được chú trọng đầu tư do phần lớn các làng nghề ở đây không nhằm mục tiêu phục vụ thị trường mà chủ yếu chỉ phục vụ đời sống nhân dân khu vực lân cận [15]. Làng nghề và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Sự phát triển của làng nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân làng nghề.